Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 – 8 – 2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Vũ Minh Hoàng.
  • 2. Ông Trịnh Tôn Nám.

- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 234/2024/TLST - HNGĐ ngày 19/7/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp Mỹ Q, thị trấn Mỹ L, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trương Vũ L1, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp Tân Thành M, xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Trương Vũ L1 tự nguyện chung sống với nhau 2016 nhưng đến năm 2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng được một thời gian, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị Mỹ L trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp dẫn đến việc vợ chồng thường hay cải vã với nhau, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và chị cùng anh L1 đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay nên chị Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1.

Về con chung, chị Mỹ L khai có 01 người con là Trương Nguyễn Gia Hạo, sinh ngày 10/12/2019. Hiện con đang chung sống với chị Mỹ L nên khi ly hôn, chị Mỹ L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, chị Mỹ L khai không có.

Đối với anh Trương Vũ L1 (bị đơn), tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L (nguyên đơn), riêng chị Mỹ L đã có lời khai và nộp đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 19/7/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, riêng nguyên đơn đã có lời khai và nộp đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do đang nuôi con nhỏ và bận công việc làm ăn không thể tham gia phiên tòa được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2020 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do bị đơn không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn được chấp nhận.

    Cũng chính từ mâu thuẫn trên, các đương sự mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai nên có căn cứ để nhận định tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn là có cơ sở.

  3. Về con chung là Trương Nguyễn Gia Hạo, sinh ngày 10/12/2019. Khi ly hôn, nguyên đơn có yêu cầu được nuôi và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, riêng bị đơn cũng không có ý kiến gì về yêu cầu trên.

    Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Do bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nên chưa có cơ sở để khẳng định việc giao con cho bị đơn nuôi dạy sẽ đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Hơn nữa, việc ly hôn của các đương sự đã phần nào gây xáo trộn đến cuộc sống bình thường của con trẻ và hiện cháu Hạo đang chung sống với nguyên đơn nên để tránh việc ảnh hưởng tâm lý của con trẻ nên tiếp tục giao con cho nguyên đơn nuôi là có cơ sở.

    Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng nguyên đơn không đặt ra yêu cầu – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt xem xét về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 144, 147, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L về việc xin ly hôn anh Trương Vũ L1.
  • - Về con chung là Trương Nguyễn Gia Hạo, sinh ngày 10/12/2019. Hiện cháu Hạo đang chung sống với chị Nguyễn Thị Mỹ L nên khi ly hôn, tiếp tục giao con cho chị Nguyễn Thị Mỹ L chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm anh Trương Vũ L1 cấp dưỡng nuôi con. Anh Trương Vũ L1 có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
  • - Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Thị Mỹ L khai không có, nên không đặt ra xem xét.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 19/7/2024, chị L đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003732 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
  • Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - UBND xã Rạch C,
  • H. Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lâm Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 159/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Trương Vũ L1 tự nguyện chung sống với nhau 2016 nhưng đến năm 2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng được một thời gian, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị Mỹ L trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp dẫn đến việc vợ chồng thường hay cải vã với nhau, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và chị cùng anh L1 đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay nên chị Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger