TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 373a/2024/HNGĐ-ST Ngày 12 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 359/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1992. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Singapore. Đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh 1988; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề 29 tháng 3 năm 2024, lời khai chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị C và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/12/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây khoảng giữa năm 2023 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, sống xa cách nhau, thiếu quan tâm, chia sẻ với nhau nên tình cảm phai nhạt, trình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Phạm Văn T.
- Về con chung: Chị C và anh Phạm Văn T có 03 con chung là cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 15/11/2009; cháu Phạm Văn Đ, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Phạm Văn D, sinh ngày 25/6/2020, hiện các cháu đang ở với anh T. Nếu ly hôn, do đang làm việc ở nước ngoài nên chị C đề nghị giao cả 03 con cho anh T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, chị C sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi dưỡng các con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị C hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện và trình bày quan điểm nhưng vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia giải quyết vụ án được nên chị C đề nghị Toà án giải quyết, xử vắng mặt và ủy quyền cho ông Nguyễn Nhân L, địa chỉ; xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An giao nhận các văn bản của Tòa án.
Về phía anh Phạm Văn T, tại lời khai ngày 15 tháng 8 năm 2024, anh Phạm Văn T trình bày: Anh T thừa nhận, điều kiện, thời gian đăng ký kết hôn, mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị C trình bày. Nhưng, anh T không đồng ý ly hôn, vì để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy các con. Nếu chị C kiên quyết ly hôn, anh T có nguyện vọng chị C trực tiếp về nước để cùng làm việc với Tòa án.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 15/11/2009; cháu Phạm Văn Đ, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Phạm Văn D, sinh ngày 25/6/2020, hiện cháu đang ở với anh T. Nếu ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con. Về cấp dưỡng, anh T đề nghị chị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi các con chung mà không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Cháu Phạm Văn T1 và cháu Phạm Văn Đ trình bày: Các cháu là con của ông T, bà C, từ khi mẹ đi nước ngoài hai cháu ở với bố. Nay, nếu bố mẹ ly hôn nguyện vọng cháu T1 tiếp tục ở với bố, còn cháu Đ có nguyện vọng ở với mẹ để ổn định việc học tập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ.
Về nội dung: Căn cứ Trích lục đăng ký kết hôn và lời khai của chị C xác định chị Nguyễn Thị C đăng ký kết hôn khi mới 16 tuổi 15 ngày nên việc đăng ký kết hôn giữa chị C và anh T là trái pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử; hủy hôn nhân trái pháp luật và buộc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T và giao cả 03 con chung chưa thành niên cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng; tài sản chung chưa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị C hiện đang ở nước ngoài, sau khi về nước gửi đơn khởi kiện và trình bày quan điểm nhưng vì điều kiện không thể trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án được, nên chị C đề nghị Toà án giải quyết, xử vắng mặt. Đối với anh Phạm Văn T, mặc dù đã có quan điểm về vụ án và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc trường hợp không thể hoà giải được và Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt, nhưng chị Nguyễn Thị C vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn T và giải quyết các nội dung liên quan. Xét thấy, chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây khoảng giữa năm 2023 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, sống xa cách nhau, thiếu quan tâm, chia sẻ với nhau, nên tình cảm vợ chồng phai nhạt, trình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Anh T cũng thừa nhận, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng trong thời gian dài và đã lâu vợ chồng không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần.
Tuy nhiên, căn cứ Trích lục đăng ký kết hôn và lời khai của chị C xác định, chị Nguyễn Thị C đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn T khi mới 16 tuổi 15 ngày. Như vậy, việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa chị C và anh T tuy có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn, là kết hôn trái pháp luật, không được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý và chị C, anh T cũng không có yêu cầu gì khác về quan hệ hôn nhân giữa hai người. Do đó, căn cứ Điều 16, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị C và anh T; chị C, anh T phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị C và anh Phạm Văn T có 03 con chung là cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 15/11/2009; cháu Phạm Văn Đ, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Phạm Văn D, sinh ngày 25/6/2020, hiện các con đang do anh T nuôi dưỡng. Chị C đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, hơn nữa chị C và anh T đều có nguyện vọng giao 03 con cho anh T nuôi dưỡng nên cần giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng cả ba con chung là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi các con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị C đều có nguyện vọng, chị C tự nguyện cấp dưỡng, chưa ai có yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chưa thành niên, chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị C đều thống nhất không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 16, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T. Chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao 03 con chung là cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 15/11/2009; cháu Phạm Văn Đ, sinh ngày 25/4/2012 và cháu Phạm Văn D, sinh ngày 25/6/2020 cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chưa thành niên, chị Nguyễn Thị C và anh Phạm Văn T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung; cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản và nợ chung: Chưa giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013046 ngày 23/7/2024 (bà Nguyễn Thị A nộp thay).
5. Về quyền kháng cáo:
5.1. Anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
5.2. Chị Nguyễn Thị C đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Phạm Văn Phấn |
Bản án số 373a/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 373a/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị H, Nguyễn Văn Đ
