|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-12-2023 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
2/ Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Tố Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST- HNGĐ ngày 9 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 7 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 216/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Huỳnh Lê H, sinh năm: 1998(Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, An Giang
-Bị đơn: Anh Phan Minh T, sinh năm: 1997 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 18/7/2023, nguyên đơn chị Huỳnh Lê H trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Minh T do quen biết và cùng thống nhất đi đến hôn nhân vào năm 2019. Chị và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 123/KH, ngày 01/8/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, do anh T không chí thú làm ăn mà tụ tập bạn bè ăn chơi. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh T không thay đổi, đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phan Minh T.
-Về con chung: Có 01 con chung tên là Phan Nhật M, sinh ngày 24/11/2020. Hiện cháu M đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phan Minh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Phan Minh T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị H .Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của anh Phan Minh T tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì anh Phan Minh T hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, An Giang, nhưng anh Phan Minh T vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Huỳnh Lê H, cho chị Huỳnh ly h với anh T. Về con chung: Đề nghị giao cháu Phan Nhật M cho chị H nuôi dưỡng, anh Phan Minh T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Minh T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Phan Minh T vẫn vắng mặt không lý do. Còn chị Huỳnh Lê H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Huỳnh Lê H và anh Phan Minh T theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Lê H và anh Phan Minh T kết hôn với nhau vào năm 2019, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo đơn chị H trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh T không chí thú làm ăn mà tụ tập bạn bè ăn chơi. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh T không thay đổi. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phan Minh T. Xét thấy với thời gian chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh Phan Minh T cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị H. Hiện tại chị H xác định không còn tình cảm với anh T. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị H cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị H và anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2]Về con chung: Có 01 con chung tên là Phan Nhật M, sinh ngày 24/11/2020. Hiện cháu M đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu M từ nhỏ đến nay sống với chị H, được chị H và gia đình chăm sóc. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu cũng như tạo điều kiện cho chị H chăm sóc cháu, nghĩ nên để chị H được nuôi cháu M là phù hợp, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Huỳnh Lê H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của chị chị Huỳnh Lê H được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Lê Huỳnh. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Lê H và anh Phan Minh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 123/KH, ngày 01/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Phan Nhật M, sinh ngày 24/11/2020. Hiện cháu M đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H được nuôi dưỡng cháu M, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
- Về tài sản và nợ chung: Chị Huỳnh Lê H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Lê Huỳnh chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004497 ngày 6/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
- Về kháng cáo: Chị Huỳnh Lê H và anh Phan Minh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 159/2023/HNGĐ-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 159/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Lê Huỳnh. Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Lê Huỳnh và anh Phan Minh Thông.
