|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày 18/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Lê Văn Tập
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/HSST, ngày 24/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HS, ngày 07/6/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 3 năm 1990, tại thành phố Hà Nội.
Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã M, huyện B, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: 128/225 Giải Phóng, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12. Họ và tên cha: Đinh Vũ L, mẹ: Đinh Thị H, có vợ: Trần Thị Kiều T1, có một con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/7/2009, bị Tòa Phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 13 năm tù giam về tội Mua bán phụ nữ, chấp hành án tại Trại giam N12 - Bộ C3 đến ngày 31/8/2015 thì chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 05/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hữu M.
Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt) - Chị Bùi Thị H1.
Địa chỉ: A P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.( Có mặt) - Chị Nguyễn Thị Kim N.
Địa chỉ: 1 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Anh Nguyễn Trần Đăng V,
Địa chỉ: 4 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Lê Thị Minh N1,
Địa chỉ: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Lê Thị Bích N2,
Địa chỉ: A Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Nguyễn Thị Như H2,
Địa chỉ: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Phan Thị Lâm Thúy N3.
Địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Anh Hoàng Thế S,
Địa chỉ: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Lê Thị Q,
T2 tại: Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Anh Phạm Việt H3,
Địa chỉ: A H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Phạm Thị Hồng H4,
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Chị Đỗ Thị Hồng N4,
Địa chỉ: 2 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt) - Bà Nguyễn Thị Y,
Địa chỉ: Thôn A, xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt). - Chị H' Linh Trang N5,
Địa chỉ: G N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt). - Chị Trương Thị M1.
Địa chỉ: Số nhà A, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt). - Anh Mầu Vũ H6. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk
Địa chỉ hiện nay: 434/69/11 Y, P. T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt) - Anh Lê Tấn N6.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt). - Chị Nguyễn Thị Tố O.
Địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt). - Bà Bùi Lê V1.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt). - Anh Nguyễn Khắc K.
Địa chỉ C, tầng 18, Block A, Chung Cư H – 33 Nguyễn Công T3, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa tháng 7 năm 2023, Đinh Đức T từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thuê phòng trọ tại số A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để ở. Sau đó, để cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên T đã đặt in 2.000 cái card với nội dung “Cho vay góp ngày – ĐT: 0865.638.xxx” rồi tự đi phát ở khu vực chợ, nơi buôn bán nhỏ lẻ để nhiều người có nhu cầu liên hệ vay tiền. Quá trình cho vay, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note20 Ultra, gắn sim số 0865.638.238 và xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ - đen, biển số 47P1 - 084.02 mua trên mạng để làm phương tiện liên lạc và đi lại. Sau đó, nhiều người có nhu cầu vay đã gọi điện thoại số 0865.638.xxx của T hỏi vay tiền thì T hỏi địa chỉ người vay để đến nhà kiểm tra, xem giấy tờ liên quan, công việc, thu nhập ... nếu thấy khách có khả năng trả nợ thì T sẽ cho vay tiền, người vay phải thế chấp lại Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy phép lái xe, viết giấy tờ vay tiền.... T cho vay trả góp trong thời gian từ 25 đến 31 ngày, thu trước tiền phí từ 5% đến 10% trên số tiền vay và số tiền góp của ngày đầu tiên. Sau khi cho vay, hàng ngày T sẽ đến nhà người vay để trực tiếp thu tiền hoặc yêu cầu người vay chuyển tiền góp qua tài khoản ngân hàng S1 số [...] mang tên Đinh Đức T để hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao, dưới hình thức cho vay tiền trả Góp. Đầu tháng 9/2023, Đinh Đức T thông qua các mối quan hệ quen biết ngoài xã hội và giới thiệu do số người vay nhiều nên T thuê Nguyễn Hữu M, sinh ngày 19/01/2006 phụ giúp T trong việc thu tiền của những người vay và thỏa thuận trả tiền công cho M là 5.000.000đồng/tháng.
Hình thức của Đinh Đức T cho vay là trả tiền gốc và tiền lãi theo ngày trong một thời hạn nhất định (Vay trả góp), như trường hợp của Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1994, vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày đóng 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu 500.000 đồng tiền phí. Khoản vay này chị H1 đã đóng được 04 ngày với số tiền 1.000.000đồng, trong đó tiền lãi là 200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.959 đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 200.000đồng + 500.000đồng – 10.959đồng = 689.041đồng. Tương đương lãi suất 365%/năm, gấp 18,25 lần.
Hiện chị H1 còn nợ 21 ngày với tổng số tiền là 5.250.000đồng cả gốc và lãi.
Số tiền lãi là 25 ngày x 250.000đồng – 5.000.000đồng = 1.250.000đồng. Trong đó lãi suất theo quy định (không vượt quá 20%/năm/khoản tiền vay) là 10.959đồng.
Lãi suất năm (1.000.000đồng : 5.000.000đồng) x 100% x 365 = 243,3%.
30 ngày
Lãi suất vượt quá là 243,3% : 20% = 12,165 lần theo quy định.
Tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, bị cáo Đinh Đức T đã cho 16 người vay tiền lãi nặng trong giao dịch dân sự trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk như sau:
Người vay thứ 1: Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1994, nơi cư trú: 17 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 25/9/2023, chị H1 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày đóng 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu 500.000đồng tiền phí. Khoản vay này chị H1 đã đóng được 04 ngày với số tiền 1.000.000đồng, trong đó tiền lãi là 200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.959đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 200.000đồng + 500.000đồng – 10.959đồng = 689.041đồng.
Hiện chị H1 còn nợ 21 ngày với tổng số tiền là 5.250.000 đồng cả gốc và lãi.
Người vay thứ 2: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1972, nơi cư trú: 1 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 25/9/2023, chị N vay T số tiền 10.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí số tiền là 900.000đồng. Khoản vay này chị N đã đóng được 02 ngày với số tiền là 1.000.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.959đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 200.000đồng + 900.000đồng – 10.959đồng = 1.089.041đồng.
Hiện chị N còn nợ 23 ngày với tổng số tiền là 11.500.000đồng cả gốc và lãi.
Người vay thứ 3: Anh Nguyễn Trần Đăng V, sinh năm 1990, nơi cư trú: 4 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 lần cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 08/8/2023, anh V vay số tiền 15.000.000đồng, đóng trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 600.000đồng tiền gốc và lãi, T thu tiền phí là 1.000.000đồng. Khoản vay này anh V đã đóng đủ 31 ngày với số tiền là 18.600.000đồng, trong đó tiền lãi là 3.600.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 254.795đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 3.600.000đồng + 1.000.000đồng – 254.795đồng = 4.345.205đồng.
- - Lần 2: Ngày 08/9/2023, anh V vay số tiền 10.000.000đồng, đóng trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 400.000đồng tiền gốc và lãi, T4 thu tiền phí là 500.000đồng, khoản vay này anh V đã đóng được 19 ngày với số tiền 7.600.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.470.968đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 104.109đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.470.968đồng + 500.000 đồng – 104.109đồng = 1.866.859đồng. Hiện anh V còn nợ 12 ngày với tổng số tiền là 4.800.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho anh V vay tổng số tiền là 25.000.000đồng thì T đã thu lợi bất chính số tiền: 6.212.064đồng.
Người vay thứ 4: Chị Lê Thị Minh N1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn T, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 khoản cụ thể:
Khoản vay thứ nhất:
- - Lần 1: Ngày 08/8/2023, chị N1 vay số tiền 10.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 500.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí số tiền là 1.000.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 10.000.000đồng, tiền lãi là 2.500.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 136.986đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000đồng + 1.000.000đồng – 136.986đồng = 3.363.014đồng.
- - Lần 2: Ngày 04/9/2023, chị N1 vay số tiền 10.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 500.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 500.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 10.000.000đồng, tiền lãi là 2.500.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 136.986đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000đồng + 500.000đồng – 136.986 đồng = 2.863.014đồng.
- - Lần 3: Ngày 19/9/2023, chị N1 vay số tiền 10.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 500.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 500.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã trả đóng được 08 ngày với số tiền 4.000.000đồng, trong đó tiền gốc là 3.200.000đồng, tiền lãi là 800.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 43.836đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 800.000đồng + 500.000đồng – 43.836đồng = 1.256.164 đồng.
Khoản vay thứ hai:
- - Lần 1: Ngày 15/8/2023, chị N1 vay số tiền 6.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 300.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 500.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 6.000.000đồng, tiền lãi là 1.500.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 82.192đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.500.000đồng + 500.000đồng – 82.192đồng = 1.917.808đồng.
- - Lần 2: Ngày 28/8/2023, chị N1 vay số tiền 6.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 300.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 300.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 6.000.000đồng, tiền lãi là 1.500.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 82.192đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.500.000đồng + 300.000đồng – 82.192đồng = 1.717.808đồng.
- - Lần 3: Ngày 13/9/2023, chị N1 vay số tiền 6.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 300.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 300.000đồng. Khoản vay này chị N1 đã đóng được 14 ngày với số tiền 4.200.000đồng, trong đó tiền gốc là 3.360.000đồng, tiền lãi là 840.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 46.027đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 840.000đồng + 300.000đồng – 46.027đồng = 1.093.973 đồng.
Như vậy, với việc cho chị N1 vay 02 khoản vay trên với tổng số tiền là 48.000.000đồng thì T đã thu lợi bất chính số tiền 12.211.781đồng.
Người vay thứ 5: Chị Lê Thị Bích N2, sinh năm 1990, nơi cư trú: 109 Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 03 lần cụ thể như sau:
- - Lần 01: Ngày 27/8/2023, chị N2 vay số tiền 3.000.000đồng, trả góp ngày 150.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 300.000đồng. Khoản vay này chị N2 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 3.750.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 750.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 41.096đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 750.000đồng + 300.000đồng – 41.096đồng = 1.008.904đồng.
- - Lần 02: Ngày 02/9/2023, chị N2 vay số tiền 3.000.000đồng, trả góp ngày 150.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 150.000đồng. Khoản vay này chị N2 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 3.750.000 đồng, trong đó tiền lãi là 750.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 41.096đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 750.000đồng + 150.000đồng – 41.096đồng = 858.904đồng.
- - Lần 03: Ngày 22/9/2023, chị N2 vay số tiền 3.000.000đồng, trả góp ngày 150.000 đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 150.000đồng. Khoản vay này chị N2 đã trả được 03 ngày với số tiền là 450.000đồng, trong đó tiền lãi là 90.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 4.932đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 90.000đồng + 150.000đồng – 4.932đồng = 235.068đồng.
Hiện chị N2 còn nợ lại 22 ngày với số tiền 3.300.000đồng.
Như vậy, với việc cho chị N2 vay 03 lần trên với tổng số tiền là 9.000.000đồng thì T đã thu lợi bất chính số tiền 2.102.876đồng.
Người vay thứ 6: Chị Nguyễn Thị Như H2, sinh năm 1999, nơi cư trú: Số C T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 lần cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 08/9/2023, chị H2 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 500.000đồng. Khoản vay này chị H2 đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 5.000.000đồng, tiền lãi là 1.250.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 68.493 đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000đồng + 500.000đồng – 68.493 đồng = 1.681.507đồng.
- - Lần 2: Ngày 19/9/2023, chị H2 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 300.000đồng. Khoản vay này chị N2 đã trả được 06 ngày, với số tiền là 1.500.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 300.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 16.438đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000đồng + 300.000 đồng – 16.438đồng = 583.562đồng.
Hiện chị H2 còn nợ 19 ngày với số tiền là 4.750.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị H2 vay 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000đồng thì T đã thu lợi bất chính số tiền 2.265.069đồng.
Người vay thứ 7: Chị Trần Thị Yến C1, sinh năm 1967, nơi cư trú: Số D Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 03 lần cụ thể như sau:
- - Lần 01: Ngày 01/8/2023, chị C1 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000 đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 500.000đồng. Khoản vay này chị C1 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 6.200.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 500.000đồng – 84.932đồng = 1.615.068đồng.
- - Lần 02: Ngày 18/8/2023, chị C1 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000 đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 250.000đồng. Khoản vay này chị C1 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 6.200.000 đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 250.000đồng – 84.932đồng = 1.365.068đồng.
- - Lần 03: Ngày 04/9/2023, chị C1 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000 đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 250.000đồng. Khoản vay này chị C1 đã trả được 23 ngày với số tiền lãi và gốc là 4.600.000 đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 890.323đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 63.014đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 890.323đồng + 250.000đồng – 63.014 đồng = 1.077.309đồng.
Hiện chị C1 còn nợ lại 08 ngày với số tiền 1.600.000 đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị C1 vay 03 lần với tổng số tiền là 15.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 4.057.445đồng.
Người vay thứ 8: Chị Phan Thị Lâm Thúy N3, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 03 lần cụ thể:
- - Lần 01: Ngày 23/7/2023, chị N3 vay số tiền 4.000.000đồng, trả góp ngày 200.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 400.000đồng. Khoản vay này chị N3 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 5.000.000 đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 1.000.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 54.795đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.000.000đồng + 400.000đồng – 54.795 đồng = 1.345.205đồng.
- - Lần 02: Ngày 28/8/2023, chị N3 vay số tiền 4.000.000đồng, trả góp ngày 200.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 200.000đồng. Khoản vay này chị N3 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 5.000.000 đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 1.000.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 54.795đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.000.000đồng + 200.000đồng – 54.795 đồng = 1.145.205đồng.
- - Lần 03: Ngày 15/9/2023, chị N3 vay số tiền 4.000.000đồng, trả góp ngày 200.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 200.000đồng. Khoản vay này chị N3 đã trả được 12 ngày với số tiền 2.400.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 480.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 26.301đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền: 480.000đồng + 200.000đồng – 26.301đồng = 653.699đồng,
Hiện chị N3 còn nợ lại 13 ngày với số tiền 2.600.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị N3 vay 03 lần với tổng số tiền là 12.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 3.144.109đồng.
Người vay thứ 9: Anh Hoàng Thế S, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn T, xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 03 lần cụ thể như sau:
- - Lần 1: Ngày 21/8/2023, anh S vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 250.000đồng. Khoản vay này anh S đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 5.000.000đồng, tiền lãi là 1.250.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 68.493đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000đồng + 250.000 đồng – 68.493đồng = 1.431.507đồng.
- - Lần 2: Ngày 08/9/2023, anh S vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 250.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 250.000đồng. Khoản vay này anh S đã trả đủ 25 ngày, trong đó tiền gốc là 5.000.000đồng, tiền lãi là 1.250.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 68.493đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000đồng + 250.000 đồng – 68.493đồng = 1.431.507đồng.
- - Lần 3: Ngày 24/9/2023, anh S vay số tiền 10.000.000đồng, thời hạn vay 25 ngày, mỗi ngày góp 500.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 500.000đồng. Khoản vay này anh S đã trả được 03 ngày, trong đó tiền gốc là 1.500.000đồng, tiền lãi là 300.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 16.438đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000đồng + 500.000đồng – 16.438đồng = 783.562đồng.
Hiện anh S còn nợ 22 ngày với số tiền là 11.000.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho anh S vay 03 lần với tổng số tiền là 20.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 3.646.576đồng.
Người vay thứ 10: Chị Lê Thị Q, sinh năm 1985, nơi cư trú: Xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 13/9/2023, chị Q vay số tiền 7.000.000đồng, thời gian góp trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 280.000đồng, T thu tiền phí 300.000đồng. Hiện chị Q đã đóng được 14 ngày với số tiền 3.920.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 758.710đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 53.698đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 758.710đồng + 300.000đồng – 53.698đồng = 1.005.012đồng.
Hiện chị Q còn nợ 17 ngày với tổng số tiền là 4.760.000đồng cả gốc và lãi.
Người vay thứ 11: Anh Phạm Việt H3, sinh năm 1981, nơi cư trú: 19 Huỳnh Thúc K1, P T, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 lần cụ thể như sau:
- - Lần 01: Ngày 10/8/2023, anh H3 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000 đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 500.000đồng. Khoản vay này anh H3 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 6.200.000 đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 500.000đồng – 84.932đồng = 1.615.068đồng.
- - Lần 02: Ngày 26/9/2023, anh H3 vay số tiền 5.000.000 đồng, trả góp ngày 200.000 đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 300.000đồng. Khoản vay này anh H3 đã trả được 02 ngày với số tiền 400.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 77.419đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 5.479đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 77.419đồng + 300.000đồng – 5.479 đồng = 371.940đồng.
Hiện anh H3 còn nợ lại 29 ngày với số tiền gốc và lãi là 5.800.000đồng.
Như vậy, với việc cho anh H3 vay 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 1.987.008đồng.
Người vay thứ 12: Chị Nguyễn Thị Hồng H7, sinh năm 1981, nơi cư trú: TDP F, phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 03 lần cụ thể:
- - Lần 01: Ngày 14/8/2023, chị H7 vay số tiền 10.000.000đồng, trả góp ngày 500.000 đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 600.000đồng. Khoản vay này chị H7 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 12.500.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 2.500.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 136.986đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 2.500.000đồng + 600.000đồng – 136.986đồng = 2.963.014đồng.
- - Lần 02: Ngày 07/9/2023, chị H7 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 250.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 250.000đồng. Khoản vay này chị H7 đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 6.250.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 1.250.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 68.493đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.250.000đồng + 250.000đồng – 68.493đồng = 1.431.507đồng.
- - Lần 03: Ngày 20/9/2023, chị H7 vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 250.000đồng trong thời gian 25 ngày, T thu phí số tiền là 250.000đồng. Khoản vay này chị H7 đã trả được 06 ngày với số tiền lãi và gốc là 1.500.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 350.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 19.178đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 350.000đồng + 250.000đồng – 19.178đồng = 580.822đồng.
Hiện chị H7 còn nợ lại 19 ngày với số tiền 4.750.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị H7 vay 03 lần với tổng số tiền là 20.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền: 4.975.343đồng.
Người vay thứ 13: Chị Đỗ Thị Cẩm N7, sinh năm 1980, nơi cư trú: 2 P, P T, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 04 lần cụ thể như sau:
- - Lần 01: Ngày 08/8/2023, chị N7 vay số tiền 5.000.000đồng, góp trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 200.000đồng, T thu 500.000đồng tiền phí. Khoản vay này chị N7 đã đóng đủ 31 ngày với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 500.000đồng – 84.932đồng = 1.615.068đồng.
- - Lần 02: Ngày 22/8/2023, chị N7 vay số tiền 5.000.000đồng, góp trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 200.000đồng, T thu 250.000đồng tiền phí. Khoản vay này chị N7 đã đóng đủ 31 ngày tương ứng với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 250.000đồng – 84.932đồng = 1.365.068đồng.
- - Lần 03: Ngày 06/9/2023, chị N7 vay số tiền 5.000.000đồng, góp trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 200.000đồng, T thu 250.000đồng tiền phí. Khoản vay này chị N7 đã đóng đủ 31 ngày tương ứng với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi đã trả là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 250.000đồng – 84.932đồng = 1.365.068đồng.
- - Lần 04: Ngày 20/9/2023, chị N7 vay số tiền 5.000.000đồng, góp trong vòng 31 ngày, mỗi ngày đóng 200.000đồng, T thu 250.000đồng tiền phí. Hiện tại khoản vay này chị N7 đã đóng được 07 ngày tương ứng với số tiền 1.400.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 270.968đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 19.178đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 270.968đồng + 250.000đồng – 19.178đồng = 501.790đồng.
Hiện chị N7 còn nợ 24 ngày với tổng số tiền là 4.800.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị N7 vay 04 lần với tổng số tiền vay là 20.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 4.846.994đồng.
Người vay thứ 14: Chị Trương Thị Thúy N8, sinh năm 1976, nơi cư trú: Hẻm A N, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 04 lần cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 08/ 8/2023, vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 31 ngày, mỗi ngày đóng 200.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 200.000đồng. Khoản vay này chị N8 đã trả đủ 31 ngày tương ứng với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 200.000đồng – 84.932đồng = 1.315.068đồng.
- - Lần 2: Khoảng cuối tháng 8/2023, chị N8 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 31 ngày, mỗi ngày góp 200.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 200.000đồng. Khoản vay này chị N8 đã trả đủ 31 ngày tương ứng với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 200.000đồng – 84.932đồng = 1.315.068đồng.
- - Lần 3: Ngày 11/ 9 /2023, chị N8 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 31 ngày, mỗi ngày góp 200.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 200.000đồng. Khoản vay này chị N8 đã trả đủ 31 ngày tương ứng với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 200.000đồng – 84.932đồng = 1.315.068đồng.
- - Lần 4: Ngày 25/ 9 /2023, chị N8 vay số tiền 5.000.000đồng, thời hạn vay 31 ngày, mỗi ngày góp 200.000đồng tiền gốc và lãi, T thu phí khoản vay là 200.000đồng. Khoản vay này chị N8 đã trả được 04 ngày tương ứng 800.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng 154.839đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 10.958đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 154.839đồng + 200.000đồng - 10.958đồng = 343.881đồng
Hiện chị N8 còn nợ 27 ngày với số tiền 5.400.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị N8 vay 04 lần với tổng số tiền là 20.000.000đồng thì T thu lợi bất chính số tiền 4.289.085đồng.
Người vay thứ 15: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1953, nơi cư trú: Thôn A, xã E, TP ., tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 lần:
- - Lần 01: Đầu tháng 8/2023, chị Y vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 500.000đồng. Khoản vay này chị Y đã trả đủ tiền gốc và lãi với số tiền 6.200.000đồng, trong đó tiền lãi là 1.200.000đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 84.932đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000đồng + 500.000đồng – 84.932đồng = 1.615.068đồng.
- - Lần 02: Ngày 18/9/2023, chị Y vay số tiền 5.000.000đồng, trả góp ngày 200.000đồng trong thời gian 31 ngày, T thu phí số tiền là 250.000đồng. Khoản vay này chị Y đã trả được 05 ngày với số tiền lãi và gốc là 1.000.000đồng, trong đó tiền lãi đã đóng là 193.548đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 13.699đồng, nên T đã thu lợi bất chính số tiền: 193.548đồng + 250.000đồng – 13.699đồng = 429.849đồng.
Hiện chị Y còn nợ lại 26 ngày với số tiền 5.200.000đồng cả gốc và lãi.
Như vậy, với việc cho chị Y vay 02 lần vay trên thì T thu lợi bất chính số tiền 2.080.917đồng.
Người vay thứ 16: Chị H'Linh Trang N9, sinh năm 2000, trú tại: G N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 01 lần: chị H' Linh Trang N5 vay số tiền 5.000.000 đồng, trong vòng 25 ngày, mỗi ngày đóng 250.000 đồng tiền gốc và lãi, T thu tiền phí số tiền là 250.000 đồng. Khoản vay này chị H' Linh Trang đã trả được 17 ngày với số tiền 4.250.000 đồng trong đó tiền gốc là 3.400.000 đồng, tiền lãi là 850.000 đồng, còn nợ lại 08 ngày với số tiền 2.000.000 đồng cà gốc và lãi. Lãi suất cao nhất theo quy đinh của nhà nước là 46.575 đồng, T đã thu lợi bất chính số tiền 850.000 đồng + 250.000 đồng - 46.575 đồng = 1.053.425 đồng.
Như vậy, Đinh Đức T đã trực tiếp cho 16 người vay tiền dưới hình thức vay góp, lãi suất cho vay từ 282,581%/năm đến 365%/năm gấp từ 9,125 đến 18,25 lần so với lãi suất cho phép của nhà nước, với tổng số tiền cho vay là 246.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 55.619.788 đồng.
Tại Kết luận giám định số: 1428/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô mang biển kiểm soát 47P1-084.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, số máy JC52E-1175916, số khung RLHJC5276DY013295, số máy số khung không thay đổi.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án, cụ thể như sau:
- - Vật chứng tạm giữ: Các tài liệu, đồ vật từ bị cáo Đinh Đức T, gồm :
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note20 Ultra số IMEI: 354428769663530 và IMEI (eSIM): 354733279663536 kèm sim điện thoại mạng V2 có số thuê bao 0865638238 là điện thoại bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- + 01 xe mô tô biển số 47P1-084.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, số máy JC52E-1175916, số khung RLHJC5276DY013295 là phương tiện bị cáo Đinh Đức T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Đức T tại số A G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, cụ thể như sau:
- +15 (mười lăm) Căn cước công dân mang tên: Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Trương Thị M1, Nguyễn Thị Như H2, Mầu V, Hoàng Thế S, Phan Thị Lâm Thúy N3, Phạm Việt H3, Nguyễn Thị Hồng H7, Lê Tấn N6, Nguyễn Thụy H8, Nguyễn Minh Đ, H' Dlũ Niê;
- + 09 (chín) “Giấy mượn tiền” của Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Lê Thị Bích N2, Nguyễn Thị Như H2, Trương Thị Thúy N8, Nguyễn Thị Y, H Lim N10;
- + 05(năm) Giấy phép lái xe mang tên: Lê Thị Bích N2, Lê Thị Q, Nguyễn Thị Hồng H7, Đỗ Thị Cẩm N7, Nguyễn Thị Tố O;
- + 01 (một) Giấy chứng minh nhân dânmang tên H Lim N10;
- + 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Bùi Lê V1;
- + 02 (hai) Sổ hộ khẩu tên Phạm Việt H3, Y Tony M2;
Đồng thời, Đinh Đức T tự nguyện mở điện thoại di động của mình để kiểm tra dữ liệu điện tử, cuộc gọi, ghi chú ... liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Nội dung kiểm tra được in trên khổ giấy A4 và đã được các đối tượng ký xác nhận vào từng trang tài liệu.
Tại bản Cáo trạng số: 155/CT-VKS-HS ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Đinh Đức T về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đinh Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nói trên.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đinh Đức Trọng phạm t “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Đức T mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo số tiền từ 40.000.000đồng đến 50.000.000đồng để sung Ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- + Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note20 Ultra số IMEI: 354428769663530 và IMEI (eSIM): 354733279663536 kèm sim điện thoại mạng V2 có số thuê bao 0865638238 thuộc sở hữu của Bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 xe mô tô biển số 47P1-084.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, số máy JC52E-1175916, số khung RLHJC5276DY013295 đều thuộc sở hữu của Bị cáo Đinh Đức T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- + Đối với, các Căn cước công dân mang tên: Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Trương Thị M1, Nguyễn Thị Như H2, Mầu V, Hoàng Thế S, Phan Thị Lâm Thúy N3, Phạm Việt H3, Nguyễn Thị Hồng H7, Lê Tấn N6. Đề nghị trả lại cho những người chủ sở hữu hợp pháp.
- + Đối với, 05 Giấy phép lái xe mang tên: Lê Thị Bích N2, Lê Thị Q,Nguyễn Thị Hồng H7, Đỗ Thị Cẩm N7, Nguyễn Thị Tố O. Đề nghị trả lại cho những người chủ sở hữu hợp pháp.
- + Đối với, 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Bùi Lê V1. Đề nghị trả lại cho người chủ sở hữu hợp pháp.
- + Đối với, 01 Sổ hộ khẩu tên Phạm Việt H3. Đề nghị trả lại cho những người chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với, 08 “Giấy mượn tiền” của Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Lê Thị Bích N2, Nguyễn Thị Như H2, Trương Thị Thúy N8, Nguyễn Thị Y, tiếp tục tạm giữ lưu trong hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Đinh Đức T trả lại số tiền 55.619.788 đồng đã thu lợi bất chính cho những người vay tiền (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trên), cụ thể như sau:
Trả lại cho chị Bùi Thị H1 số tiền 689.041 đồng; Trả lại cho anh Nguyễn Trần Đăng V số tiền 4.345.205 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Minh N1 số tiền 12.211.781 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Như H2 số tiền 2.265.068 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H7 số tiền 4.975.342 đồng; Trả lại cho anh Phạm Việt H3 số tiền 1.987.008 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 1.089.041 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Q số tiền 1.005.001 đồng; Trả lại cho anh Hoàng Thế S số tiền 3.646.575 đồng; Trả lại cho chị Phan Thị Lâm Thúy N3 số tiền 3.144.109 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Bích N2 số tiền 2.102.876 đồng; Trả lại cho chị Trần Thị Yến C1 số tiền 4.057.445 đồng; Trả lại cho chị Đỗ Thị Cẩm N7 số tiền 4.847.000 đồng; Trả lại cho chị Trương Thị Thúy N8 số tiền 4.289.085 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 2.044.918 đồng; Trả lại cho chị H' Linh Trang Niê số tiền 1.053.425 đồng.
Đề nghị truy thu để sung công quỹ nhà nước từ bị cáo Đinh Đức T số tiền 246.000.000 đồng là tiền gốc mà các Bị cáo cho 16 người vay và số tiền 2.656.986 đồng là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) nộp sung ngân sách Nhà nước mà bị cáo đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay.
Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp số tiền 71.456.774 đồng nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Đinh Đức T để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
Chị Bùi Thị H1 nộp lại số tiền 4.200.000 đồng; Chị Lê Thị Minh N1 nộp lại số tiền 9.440.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Như H2 nộp lại số tiền 3.800.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Hồng H7 nộp lại số tiền 3.600.000 đồng; Anh Phạm Việt H3 nộp lại số tiền 4.677.419 đồng; Chị Nguyễn Thị Kim N nộp lại số tiền 9.200.000 đồng; Chị Lê Thị Q nộp lại số tiền 3.838.710 đồng; Anh Hoàng Thế S nộp lại số tiền 8.800.000 đồng; Chị Phan Thị Lâm Thúy N3 nộp lại số tiền 2.080.000 đồng; Chị Lê Thị Bích N2 nộp lại số tiền 2.640.000 đồng; Chị Trần Thị Yến C1 nộp lại số tiền 1.290.323 đồng; Chị Đỗ Thị C2 nộp lại số tiền 3.870.968 đồng; Chị Trương Thị Thúy N8 nộp lại số tiền 4.354.839 đồng; Chị Nguyễn Thị Y nộp lại số tiền 4.193.548 đồng; Chị H' Linh Trang N5 nộp lại số tiền 1.600.000 đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 135/CT-VKS-HS ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Đinh Đức T đã cho 16 người vay tiền lãi nặng trong giao dịch dân sự, tổng số tiền cho vay là 246.000.000đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 55.619.788 đồng, tương ứng với lãi suất từ 282,581%/năm đến 365%/năm gấp từ 9,125 đến 18,25 lần so với lãi suất cho phép của nhà nước, thì bị phát hiện. Như vậy hành vi của bị cáo Đinh Đức T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự;
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
[3]. Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng và gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo số tiền 50.000.000đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[6]. Về việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
[7]. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 174.543.226 đồng là tiền gốc mà bị cáo T cho 16 người vay (người vay đã trả cho bị cáo) và số tiền 2.656.986 đồng là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) mà bị cáo đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay, đây là số tiền bị cáo dùng để cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay nên cần truy thu của bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 71.456.774 đồng nợ gốc của bị cáo T cho những vay nhưng những người này chưa trả, nên cần truy thu của những người này để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
Chị Bùi Thị H1 số tiền 4.200.000 đồng; Chị Lê Thị Minh N1 số tiền 9.440.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Như H2 số tiền 3.800.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Hồng H7 số tiền 3.600.000 đồng; Anh Phạm Việt H3 số tiền 4.677.419 đồng; Chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 9.200.000 đồng; Chị Lê Thị Q số tiền 3.838.710 đồng; Anh Hoàng Thế S số tiền 8.800.000 đồng; Chị Phan Thị Lâm Thúy N3 số tiền 2.080.000 đồng; Chị Lê Thị Bích N2 số tiền 2.640.000 đồng; Chị Trần Thị Yến C1 số tiền 1.290.323 đồng; Chị Đỗ Thị Cẩm N7 số tiền 3.870.968 đồng; Chị Trương Thị Thúy N8 số tiền 4.354.839 đồng; Chị Nguyễn Thị Y số tiền 4.193.548 đồng; Chị H' Linh Trang N5 số tiền 1.600.000 đồng.
Đối với số tiền 55.619.788 đồng bị cáo T đã thu lợi bất chính của những người vay tiền nên cần buộc bị cáo Đinh Đức T trả lại cho những người vay cụ thể như sau:
Trả lại cho chị Bùi Thị H1 số tiền 689.041 đồng; Trả lại cho anh Nguyễn Trần Đăng V số tiền 4.345.205 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Minh N1 số tiền 12.211.781 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Như H2 số tiền 2.265.068 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H7 số tiền 4.975.342 đồng; Trả lại cho anh Phạm Việt H3 số tiền 1.987.008 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 1.089.041 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Q số tiền 1.005.001 đồng; Trả lại cho anh Hoàng Thế S số tiền 3.646.575 đồng; Trả lại cho chị Phan Thị Lâm Thúy N3 số tiền 3.144.109 đồng; Trả lại cho chị Lê Thị Bích N2 số tiền 2.102.876 đồng; Trả lại cho chị Trần Thị Yến C1 số tiền 4.057.445 đồng; Trả lại cho chị Đỗ Thị Cẩm N7 số tiền 4.847.000 đồng; Trả lại cho chị Trương Thị Thúy N8 số tiền 4.289.085 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 2.044.918 đồng; Trả lại cho chị H' Linh Trang Niê số tiền 1.053.425 đồng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note20 Ultra số IMEI: 354428769663530 và IMEI (eSIM): 354733279663536 kèm sim điện thoại mạng V2 có số thuê bao 0865638238 thuộc sở hữu của bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; 01 xe mô tô biển số 47P1-084.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, số máy JC52E-1175916, số khung RLHJC5276DY013295 đều thuộc sở hữu của Bị cáo Đinh Đức T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách quỹ Nhà nước.
Đối với, các Căn cước công dân mang tên: Bùi Thị H1, số 04219415491; Nguyễn Thị Kim N, số [...]; Nguyễn Trần Đăng V, số [...]; Lê Thị Minh N1, số [...]; Trương Thị M1, số [...]; Nguyễn Thị Như H2, số [...]; Mầu V, số [...]; Hoàng Thế S, số [...]; Phan Thị Lâm Thúy N3, số [...]; Phạm Việt H3, số [...]; Nguyễn Thị Hồng H7, số [...]; Lê Tấn N6, số [...] ; Đối với, các Giấy phép lái xe: Số [...] mang tên Lê Thị Bích N2; Số X 321 077 mang tên Lê Thị Q; Số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng H7; Số [...] mang tên Đỗ Thị Cẩm N7; Số K 129790 mang tên Nguyễn Thị Tố O; Đối với, 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 040524 của xe biển số 47B1- 347.43 mang tên Bùi Lê V1, khi bà Q vay tiền của bị cáo thì bà Q lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên đưa cho bị cáo giữ và đối với, 01 Sổ hộ khẩu số [...] mang tên Phạm Việt H3, đây là tài sản của những người vay tiền đưa cho bị cáo cầm để vay tiền, đây không phải là tài sản thế chấp nên cần trả lại cho tất cả các chủ sỡ hữu nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với, 08 “Giấy mượn tiền” của Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Lê Thị Bích N2, Nguyễn Thị Như H2, Trương Thị Thúy N8 và Nguyễn Thị Y, là các chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[8]. Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
Đối với các chủ tài khoản giao dịch với tài khoản Ngân hàng S1 số [...] mang tên Đinh Đức T thời điểm từ ngày 30/6/2023 đến ngày 27/9/2023, kết quả thể hiện thông tin của 06 người cụ thể: Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1960, hộ khẩu thường trú: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 5200205711825, Ngân hàng B; Nguyễn Thị Thu H9, hộ khẩu thường trú: 57 A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 5200205883004, Ngân hàng A; Nguyễn Thị Hoàng O1, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0905291994, Ngân hàng N13; H Thu Mlô, sinh ngày 13/11/1973, hộ khẩu thường trú: Buôn P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0868380662, Ngân hàng N13; Nguyễn Thị Như T5, sinh ngày 03/12/1985, hộ khẩu thường trú: 09 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 6009000051309000, Ngân hàng V3; Phan Trọng D, sinh ngày 21/02/1992, hộ khẩu thường trú: tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0347582359, Ngân hàng M4. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thị Thu H9, Nguyễn Thị Hoàng O1, H T, Nguyễn Thị Như T5, Phan Trọng D không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra chưa làm việc được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hồ sơ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với các căn cước công dân mang tên Nguyễn Thụy H8, Nguyễn Minh Đ, H'Dlũ N11, Giấy chứng minh nhân dân mang tên H Lim N10, giấy mượn tiền H Lim N10, sổ hộ khẩu mang tên Y Tony M2 (có thành viên trong hộ tên H Lim N10), quá trình điều tra Nguyễn Thụy H8, Nguyễn Minh Đ, H' Dlũ Niê, H Lim N10 không có mặt tại đại phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hồ sơ cùng các đồ vật, tài liệu trên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Khắc K là người cho bị cáo T vay tiền từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023 với số tiền 200.000.000đồng, lãi suất bị cáo T trả cho anh K khoảng 10.000.000đồng, gồm nhiều khoản vay có lãi và nhiều khoản vay không có lãi. Quá trình điều tra xác định anh M không có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh K là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Hữu M là người được bị cáo T thuê để đi thu tiền của người vay, anh M không biết bị cáo T cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật và cũng không được hưởng lợi gì về việc bị cáo T cho người khác vay tiền lãi nặng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh M là phù hợp.
[9]. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 201 Bộ luật hình sự;
[1] Tuyên bố: Bị cáo Đinh Đức Trọng phạm t “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
[2] Về hình phạt chính:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Đức T 24 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 05/10/2023.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự;
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 50.000.000đồng Sung vào Ngân sách Nhà nước.
[4] Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về xử lý vật chứng:
Truy thu của bị cáo Đinh Đức T số tiền 174.543.226 đồng là tiền gốc mà bị cáo cho 16 người vay và số tiền 2.656.986 đồng là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%) để sung ngân sách Nhà nước.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của những người vay (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) với tổng số tiền 71.456.774 đồng tiền nợ gốc của những người này vay của bị cáo nhưng chưa trả, cụ thể như sau:
Của chị Bùi Thị H1 số tiền 4.200.000 đồng; Của chị Lê Thị Minh N1 số tiền 9.440.000 đồng; Của chị Nguyễn Thị Như H2 số tiền 3.800.000 đồng; Của chị Nguyễn Thị Hồng H7 số tiền 3.600.000 đồng; Của anh Phạm Việt H3 số tiền 4.677.419 đồng; Của chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 9.200.000 đồng; Của chị Lê Thị Q số tiền 3.838.710 đồng; Của anh Hoàng Thế S số tiền 8.800.000 đồng; Của chị Phan Thị Lâm Thúy N3 số tiền 2.080.000 đồng; Của chị Lê Thị Bích N2 số tiền 2.640.000 đồng; Của chị Trần Thị Yến C1 số tiền 1.290.323 đồng; Của chị Đỗ Thị Cẩm N7 số tiền 3.870.968 đồng; Của chị Trương Thị Thúy N8 số tiền 4.354.839 đồng; Của chị Nguyễn Thị Y số tiền 4.193.548 đồng và của chị H' Linh Trang N5 số tiền 1.600.000 đồng.
Đối với số tiền 55.619.788 đồng bị cáo Đinh Đức T đã thu lợi bất chính của những người vay tiền (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên), nên cần buộc bị cáo Đinh Đức T trả lại, cụ thể như sau:
Trả lại cho chị Bùi Thị H1 số tiền 689.041 đồng.
Trả lại cho anh Nguyễn Trần Đăng V số tiền 4.345.205 đồng.
Trả lại cho chị Lê Thị Minh N1 số tiền 12.211.781 đồng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Như H2 số tiền 2.265.068 đồng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H7 số tiền 4.975.342 đồng.
Trả lại cho anh Phạm Việt H3 số tiền 1.987.008 đồng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền 1.089.041 đồng.
Trả lại cho chị Lê Thị Q số tiền 1.005.001 đồng.
Trả lại cho anh Hoàng Thế S số tiền 3.646.575 đồng.
Trả lại cho chị Phan Thị Lâm Thúy N3 số tiền 3.144.109 đồng.
Trả lại cho chị Lê Thị Bích N2 số tiền 2.102.876 đồng.
Trả lại cho chị Trần Thị Yến C1 số tiền 4.057.445 đồng.
Trả lại cho chị Đỗ Thị Cẩm N7 số tiền 4.847.000 đồng.
Trả lại cho chị Trương Thị Thúy N8 số tiền 4.289.085 đồng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền 2.044.918 đồng.
Trả lại cho chị H' Linh Trang Niê số tiền 1.053.425 đồng.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note20 Ultra số IMEI: 354428769663530 và IMEI (eSIM): 354733279663536 kèm sim điện thoại mạng V2 có số thuê bao 0865638238 thuộc sở hữu của bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và 01 xe mô tô biển số 47P1-084.02, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, số máy JC52E-1175916, số khung RLHJC5276DY013295 đều thuộc sở hữu của bị cáo Đinh Đức T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại các Căn cước công dân, cụ thể như sau: Trả cho chị Bùi Thị H1 01 Căn cước công dân số 04219415491; Trả cho bà Nguyễn Thị Kim N 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho ông Nguyễn Trần Đăng V 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Lê Thị Minh N1 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Trương Thị M1 01Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Nguyễn Thị Như H2 01Căn cước công dân số [...]; Trả cho ông M3 Vũ Hy 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho ông Hoàng Thế S 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Phan Thị Lâm T6 Nga 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho ông Phạm Việt H3 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Nguyễn Thị Hồng H7 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho ông Lê Tấn N6 01 Căn cước công dân số [...]; Trả cho bà Lê Thị Bích N2 01 giấy phép lái xe: Số [...] mang tên Lê Thị Bích N2; Trả cho bà Lê Thị Q 01 giấy phép lái xe số X 321077 mang tên Lê Thị Q; Trả cho bà Nguyễn Thị Hồng H7 01giấy phép lái xe Số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng H7; Trả cho bà Đỗ Thị Cẩm N7 01giấy phép lái xe số [...] mang tên Đỗ Thị Cẩm N7; Trả cho bà Nguyễn Thị Tố O 01giấy phép lái xe số K129790 mang tên Nguyễn Thị Tố O; Trả lại cho ông Bùi Lê V1 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 040524 của xe biển số 47B1-347.43 mang tên Bùi Lê V1 và trả lại 01 Sổ hộ khẩu số [...] mang tên Phạm Việt H3 cho ông Phạm Việt H3.
(Các vật chứng, tài sản có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản, ngày 17/6/2024 giữa Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột).
Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 08 “Giấy mượn tiền” bản gốc của Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Trần Đăng V, Lê Thị Minh N1, Lê Thị Bích N2, Nguyễn Thị Như H2, Trương Thị Thúy N8, Nguyễn Thị Y.
[5] Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau: Đối với các chủ tài khoản giao dịch với tài khoản Ngân hàng S1 số [...] mang tên Đinh Đức T thời điểm từ ngày 30/6/2023 đến ngày 27/9/2023, kết quả thể hiện thông tin của 06 người cụ thể: Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1960, hộ khẩu thường trú: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 5200205711825, Ngân hàng B; Nguyễn Thị Thu H9, hộ khẩu thường trú: 57 A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 5200205883004, Ngân hàng A; Nguyễn Thị Hoàng O1, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0905291994, Ngân hàng N13; H Thu Mlô, sinh ngày 13/11/1973, hộ khẩu thường trú: Buôn P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0868380662, Ngân hàng N13; Nguyễn Thị Như T5, sinh ngày 03/12/1985, hộ khẩu thường trú: 09 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 6009000051309000, Ngân hàng V3; Phan Trọng D, sinh ngày 21/02/1992, hộ khẩu thường trú: tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, số căn cước công dân: [...], số tài khoản: 0347582359, Ngân hàng M4. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc P, Nguyễn Thị Thu H9, Nguyễn Thị Hoàng O1, H T, Nguyễn Thị Như T5, Phan Trọng D và các căn cước công dân mang tên Nguyễn Thụy H8, Nguyễn Minh Đ, H' Dlũ Niê, Giấy chứng minh nhân dân mang tên H Lim N10, giấy mượn tiền H Lim N10, sổ hộ khẩu mang tên Y Tony M2 (có thành viên trong hộ tên H Lim N10), quá trình điều tra Nguyễn Thụy H8, Nguyễn Minh Đ, H' Dlũ Niê, H Lim N10 không có mặt tại đại phương Cơ quan điều tra chưa làm việc được.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với anh Nguyễn Khắc K là người cho bị cáo T vay tiền từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023 với số tiền 200.000.000đồng và anh Nguyễn Hữu M là người được bị cáo T thuê để đi thu tiền của người vay, anh M không biết bị cáo T cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật và cũng không được hưởng lợi gì về việc bị cáo T cho người khác vay tiền lãi nặng.
[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Đức T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đinh Đức Trọng 24 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/9/2023 đến ngày 05/10/2023. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo Trọng cho Ủy ban nhân dân xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. [3] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự; Phạt bổ sung bị cáo số tiền 50.000.000đồng Sung vào Ngân sách Nhà nước.
