Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 159/2024/HSST

Ngày 17/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Côn;
  2. Ông Nguyễn Tất Bẩy.

Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo:

Hà Văn T

sinh năm 1990, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Hà Văn T1 và bà Hoàng Thị N: Vợ: Nguyễn Thị O; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, hiện tại ngoại “có mặt”.

Bị hại: Chị Hoàng Thị T2 (đã chết).

* Đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Ông Hoàng Văn G, sinh năm 1969 “vắng mặt”.
  2. Bà Lăng Thị T3, sinh năm 1970 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Chu Huy T4, sinh năm 1972 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Công ty cổ phần Đ; địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty Đông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1987 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

Ông Vi Văn T6, sinh năm 1959 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn T là người có giấy phép lái xe hạng FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/9/2023, có giá trị đến ngày 25/9/2028. Ngày 01/4/2024, T ký hợp đồng lái xe thuê cho công ty Đ, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sáng ngày 24/6/2024, T được công ty G1 điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 98C-203.54, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 98R-015.04 chở vật liệu xây dựng di chuyển từ huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi theo Quốc lộ B về thị trấn C, huyện L để giao hàng. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, lúc này trời đang mưa, T đi đến đoạn đường km82+200, quốc lộ B là đoạn đường cong cua, lên dốc thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện L (có biển báo “Đường ngoặt nguy hiểm vòng bên trái”, quan sát phía trước có 02 chiếc ô tô đầu kéo đi hướng ngược chiều đến, T vẫn điều khiển xe ô tô đi với tốc độ bình thường, khi 02 chiếc xe đầu kéo đi qua thì T bấm 01 hồi còi xe rồi điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi. Đúng lúc này chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1995, trú tại thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Trắng, biển kiểm soát 98E-709.87 đi ngược chiều (hướng xã T đi xã P) đến đã bị trượt ngã, cả người và xe mô tô của chị T2 văng rê ở phần đường bên phải theo chiều T đi P. Do T không giảm tốc độ và đi lấn sang phần đường của chị T2 nên má lốp bánh ngoài trục bánh xe thứ 2, 3 bên trái xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với chị T2. Hậu quả: chị T2 tử vong, xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi xảy ra va chạm, T dừng xe lại, xuống xe và quan sát thấy chị T2 bất tỉnh và thấy một số người dân gần đó ra hiện trường. Do hoảng sợ và lo lắng bị đánh, đồng thời để tránh ùn tắc nên T điều khiển xe tiếp tục đi thêm khoảng 02km, đến đoạn đường K+150, đường Q thuộc thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang thấy có một bãi đất trống cạnh đường, T dừng xe lại, đỗ xe vào bãi đất trống cạnh đường, sau đó đến Công an huyện L trình diện.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn, khám nghiệm tử thi chị Hoàng Thị T2 và khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Kết quả:

- Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường có khúc ngoặt về bên trái theo hướng T đi P, bề mặt đường phẳng được trải nhựa áp phan. Mặt đường có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng, chia lòng đường thành hai chiều di chuyển. Cách vị trí xảy ra tai nạn 50m trên lề đường phải hướng T đi P có biển báo giao thông sắp đến chỗ ngoặt nguy hiểm bên trái

(Biển báo 201a). Chiều rộng lòng đường là 6m. Các dấu vết ký hiệu: (1) Dấu vết cày xước mặt đường; (2) Mũ bảo hiểm và chiếc dép nhựa bên trái; (3) Tử thị; (4) Xe mô tô 98E1-709.87; (5) Dấu vết cày xước mặt đường; (6) Chiếc dép nhựa bên phải; (7) Dấu vết máu. Điểm mốc: Lấy cột mốc ký hiệu H2182 làm mốc; lấy mép đường phải chiều đường P đi T làm chuẩn. Tại vị trí số (1) là dấu vết cày xước mặt đường dạng đứt đoạn theo chiều hướng Phong V đi T kích thước (6,9x0,015)m, cách mép chuẩn 1,7m, cuối vết tiếp xúc để chân trước bên phải xe mô tô, cách mép chuẩn 1,1 m, cách mốc 2,9m. Tại vị trí số (2) là mũ bảo hiểm xanh bị vỡ và chiếc dép nhựa màu đen bên trái kích thước (0,5 x0,6)m; tâm vị trí số (2) cách mép chuẩn 1,2m, cách đầu vết số (1) là 3,3m, cách trục sau xe mô tô là 3,3m. Tại vị trí ký hiệu (3) là tử thi nữ giới đang trong trạng thái nằm ngửa đầu hướng mép đường chuẩn, đỉnh đầu tử thi cách mép chuẩn 0,5m, cách mốc 4,3m, đầu mũi chân trái tử thi cách mép chuẩn 1,9m, đầu mũi chân phải tử thi cách mép chuẩn 1,8m; cách mốc 4,2 m. Tại vị trí ký hiệu (4) là xe mô tô 98E1-709.87 trong trạng thái đổ nghiêng phải, đầu xe hướng mép chuẩn, tâm trục sau xe cách mép chuẩn 1,45m, cách mốc 3,4m, tâm trục trước xe cách mép chuẩn 0,4m, cách mốc 2,2m, tâm trục sau xe cách đỉnh đầu tử thi là 1,8m. Tại vị trí số (5) là dấu vết cày xước mặt đường theo hướng từ tâm đường vào mép chuẩn kích thước (0,18x0,05)m; đầu vết cách mép chuẩn 1,9m, cách mốc 4,7m; cuối vết cách mép chuẩn 1,75m. Tại vị trí số (6) là chiếc dép nhựa màu đen bên phải nằm trên lề đất sát với mép đường chuẩn, cách mốc 2,9m, cách trục trước xe mô tô 1,1m. Tại vị trí số (7) là dấu vết máu trên diện (0,15x0,08)m; tâm vết cách mép chuẩn 1,7m, cách tâm trục sau xe mô tô là 1,35m. Thu giữ: 01 chiếc mũ bảo hiểm (niêm phong “MŨ BẢO HIỂM HOÀNG THỊ TÌNH”); 02 chiếc dép; tạm giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 98E-709.87.

- Kết quả khám nghiệm tử thi Hoàng Thị T2 xác định: Tại vùng trán đỉnh phải thái dương có diện sưng nề bầm tím kích thước (28x20) cm trên diện này có vết rách da, giải phẫu thì thấy bầm tụ máu, có vị trí hướng đường nứt vỡ xương hộp sọ dài 4cm, qua đường vỡ máu đỏ chảy ra ngoài; khu vực khủyu tay, bàn tay bầm tím; đỉnh thái dương sưng nề bầm tím xây sát da; vùng chẩm xây sát bầm tím; gãy đốt sống cổ C4, C5. Sau khi khám nghiệm đã tiến hành thu giữ và niêm phong: 01 ống nhựa có nắp màu đen (ống nhựa y tế) chứa mẫu máu của tử thi Hoàng Thị T2 được niêm phong trong phong bì “MM1”; 01 chiếc áo chống nắng dài tay màu xanh (mặc bên ngoài) của Hoàng Thị T2 được niêm phong trong hộp cát tông dán kín “Áo chống nắng Hoàng Thị T2”.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô đầu kéo BKS 98C-203.54, kéo theo sơ mi rơ moóc, BKS 98R-015.04 có các dấu vết: Tại chân bùn của bánh xe thứ 3 bên trái xe ô tô đầu kéo có bám dính lông tóc màu đen và sơ vải màu xanh, tương ứng với vị trí này mặt trong chân bùn có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất trên diện 12x6cm, điểm thấp nhất cách đất 18cm. Má ngoài lốp

bánh, trục bánh số 3 bên trái của xe ô tô tại vị trí cách chân van theo hướng ngược chiều kim đồng hồ 54cm có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất in hằn các đường thẳng song song dạng vân vải trên diện (70x16)cm. Má lốp bánh ngoài, trục bánh số 4 bên trái (trục 1 xe rơ mooc), tại vị trí cách chân van 30cm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất chiều hướng từ mặt lăn vào tâm trục, hướng ngược chiều chuyển động trên diện (9,6x7,6)cm tương ứng vị trí này trên các khoảng vân song song có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất trên diện (12x6)cm. Trên mặt lốp bên trái bánh xe thứ 2 có vết mài trượt cao su sạch bụi đất in hằn các đường thẳng song song trên diện (56x18)cm. Ô tô không có camera hành trình. Sau khi khám nghiệm phương tiện đã thu giữ: Lông tóc màu đen, vải xơ sợi màu xanh bám dính tại chân bùn bánh thứ 3 (niêm phong “LÔNG TÓC, XƠ SỢI”; thu mẫu vân lốp tại vị trí má lốp thứ 4 (được in hằn lên giấy A4); thu mẫu cao su tại má lốp thứ 4 bên trái bánh ngoài kích thước (1,5x2)cm (niêm phong "Cao Su").

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 98E-709.87 có các dấu vết: Vỡ gương chiếu hậu phải; chùn cong tay phanh từ bên phải sang bên trái; đầu tay nắm bên phải có vết mài trượt kim loại kích thước (2x0,5)cm; đầu giá đỡ chân bên phải có vết mài trượt kim loại kích thước (1,5x1)cm; ốp bô xe có vết mài trượt kim loại hướng từ trước về sau, kích thước (35x4)cm; tay xách bị chùn cong theo hướng từ sau về trước từ trái sang phải, tại vị trí bên trái tay xách có in hằn đường vân song song trên diện kích thước (4x1)cm; ốp nhựa đuôi xe bị vỡ kích thước (4x8)cm, trên bề mặt có in hằn đường vân song song màu đen trên diện (4x8)cm; ốp đèn hậu vị trí dưới ốp nhựa đuôi xe có vết dập vỡ nhựa, kích thước (3x0,5)cm. 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu Honda bị vỡ phần kính chắn gió trên bề mặt kính chắn gió có vết mài trượt màu đen, kích thước (6x15)cm trên bề mặt vết mài trượt bám dính chất màu đen. Phía bên phải vỏ mũ bảo hiểm bị vỡ. Phần xốp bên trong mũ bảo hiểm bị vỡ bật dời. Thu giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 98E1-709.87 mang tên Hoàng Thị T2; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hoàng Thị T2; 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Thị T2 (phô tô).

Ngày 24/6/2024, T giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC mang tên Hà Văn T; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 6089549 của xe đầu kéo 98C-203.54 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 6089548 của rơ moóc 98R-015.04 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô (bản gốc); 01 (một) bản sao chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 004374 của rơ moóc biển số 98R-014.04; 01 (một) bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 048995 của xe ô tô biển số 98C-203.54; 02 (hai) giấy biên nhận thế chấp. Cùng ngày Cơ quan điều tra đã

tiến hành kiểm tra ma túy trong nước tiểu và kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của T, kết quả: Âm tính các chất ma túy và nồng độ cồn trong hơi thở là 0.000mg/l.

Ngày 24/6/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 979/QĐ-ĐTTH về nguyên nhân chết, cơ chế hình thành dấu vết trên tử thi Hoàng Thị T2. Tại Kết luận giám định tử thi số 1502/KLGĐTT-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: "Nguyên nhân chết của tử thi Hoàng Thị T2 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; gãy đốt sống cổ C4, C5. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, mài sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng, diện tiếp xúc, lực khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên; tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy đốt sống cổ được hình thành do tiếp xúc, chèn đẩy và xoắn vặn với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên" (BL: 48-50).

Ngày 01/7/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định nồng độ cồn trong mẫu máu tử thi Hoàng Thị T2; Quyết định trưng cầu mẫu cao su màu đen thu tại mũ bảo hiểm của chị T2 và mẫu lông tóc màu đen và Quyết định trưng cầu mẫu vải sợi màu xanh bám dính tại chắn bùn trục bánh xe thứ ba bên trái của xe ô tô đầu kéo BKS 98C-203.54.

Tại Kết luận giám định số 4987/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của V1 Bộ C, kết luận: "Mẫu máu ghi thu của Hoàng Thị T2 (sinh năm 1995, trú tại thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang) (ký hiệu MM1) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn)".

Tại Kết luận giám định số 4988/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của V1 Bộ C, kết luận: "Chất màu đen bám dính trên bề mặt kính chắn gió của mũ bảo hiểm gửi giám định khác loại với mẫu cao su thu tại má lốp bánh ngoài, trục bánh thứ 4, bên trái của xe ô tô đầu kéo, BKS 98C-203.54 gửi làm mẫu so sánh".

Tại kết luận giám định số 4989/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của V1 Bộ C, kết luận: "Mẫu chất dạng sợi màu xanh bám dính tại chắn bùn trục trước bánh xe thứ 3 bên trái của xe ô tô đầu kéo BKS 98C-203.54 (ký hiệu: lông tóc, xơ sợi) gửi giám định cùng loại với sợi vải màu xanh của chiếc áo chống nắng Hoàng Thị T2 gửi làm mẫu so sánh".

Ngày 10/7/2024, CQĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1088/QĐ-ĐTTH về cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện; vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường; tốc độ các phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại Kết luận giám định số 1762/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

"1. Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, hướng từ mặt lăn vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến ở má lốp bánh ngoài trục bánh số 4 bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98C-203.54 kéo theo sơ mi rơ móoc biển kiểm soát 98R-015.04 (ảnh 29, 30, 31, 32, 33, 34) bản ảnh khám nghiệm phương tiện)

được hình thành do va chạm với tay sách sau và ốp nhựa cụm đèn phía dưới tay sách của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-709.87 (khi xe mô tô trong trạng thái đổ nghiêng phải, ảnh 11, 12, 13 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

Dấu vết màu trượt cao su, in hằn các đường thẳng song song, hướng từ tâm trục ra mặt lăn ở má lốp bánh ngoài trục bánh số 2, số 3 bên trái và dấu vết bám dính sợi vải màu xanh ở mặt trong chắn bùn hàng bánh số 3 bên trái được hình thành do va chạm với chiếc áo chống nắng màu xanh do chị Hoàng Thị T2 mặc khi xảy ra tai nạn.

2. Dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước nhựa, cao su, bám dính chất màu trắng, hướng từ trước ra sau ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-709.87 gồm: tay nắm, để chân trước, ống xả, để chân sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẵn như mặt đường tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô đổ nghiêng phải, rê trượt trên mặt đường đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1 và số 5.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C-203.54 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-015.04 với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-709.87 trên mặt đường, tại đoạn cuối dất vết cày xước ký hiệu số 1 (vị trí dấu vết cày xước ký hiệu số 5, ảnh 13, 15 bản ảnh khám nghiệm hiện trường), thuộc phần đường bên phải theo hướng Phong V đi T.

4. Căn cứ chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện và trên hiện trường, xác đinh tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98E1-709.87 đổ nghiêng phải, rê trượt theo hướng Phong V đi T va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 98C-203.54 kéo theo sơmi rơ mooc biển kiểm soát 98R-015.04 chuyển động ngược chiều.

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học".

Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 98E1-709.87 và 01 mũ bảo hiểm bị vỡ sau tai nạn. Tại Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn Trắng - Đ - Bạc, BKS 98E1-709.87 bị hư hỏng và 01 mũ bảo hiểm bị vỡ tổng thiệt hại là: 970.000 đồng.

Ngày 30/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định thực nghiệm điều tra đồng thời tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn. Kết quả tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của Hà Văn T khi Hà Văn T điều khiển phương tiện đi qua km82+250, đường Q, thuộc địa phận thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bánh ngoài các trục bánh xe thứ 2,3,4, bên trái lăn trên phần đường bên trái hướng xã T đi xã P là phù hợp với

diễn biến vụ việc và các tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được. Quá trình dựng lại vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn T7 - Đen - Bạc, BKS: 98E1-709.87 theo các dấu vết cày xước trên hiện trường, xác định: Khi đặt xe mô tô tại các dấu vết cày xước trên hiện trường (trong trường hợp xe nằm ngang đường) thì chiếc xe mô tô hoàn toàn nằm tại phần đường bên phải hướng xã P đi xã T.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên là do lỗi hỗn hợp của Hà Văn T và chị Hoàng Thị T2. Hà Văn T điều khiển xe ô tô trong điều kiện thời tiết có mưa, đến đoạn đường cong cua, lên dốc, có biển báo “Đường ngoặt nguy hiểm vòng bên trái” nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn; điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều. Hành vi của Hà Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ; khoản 3, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/ TT-BGTVT của Bộ G2. Chị Hoàng Thị T2 điều khiển xe mô tô ở đoạn đường quanh co, đèo dốc, trời mưa, đường trơn trượt nhưng không đảm bảo tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến bị trượt ngã, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 4; khoản 3, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G2.

Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: "1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ".

Khoản 3 Điều 4 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định: “3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông”.

Khoản 3, 11 Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ G2 quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

3. ... đường có địa hình quanh co, đèo dốc; ...

11. Trời mưa...; mặt đường trơn trượt...”

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Hoàng Thị T2 số tiền 300.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Thị T2 là anh Chu Huy T4 đã nhận đủ số tiền trên, không có đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.

Bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 06 tháng về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Hà Văn T là người đã có giấy phép lái xe hạng FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/9/2023. Khoảng 10 giờ 15 phút, T điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 98C-203.54 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 98R-015.04 chở vật liệu xây dựng đi từ huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi về thị trấn C, huyện L. Khi đi đến đoạn km82+200, đường Q, thuộc thôn C, xã P, huyện L, là đoạn đường cong, cua, lên dốc và trời đang mưa nhưng T không giảm tốc độ và điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường của phương tiện đi ngược chiều. Lúc này chị Hà Thị T8 điều khiển xe mô tô BKS 98E-709.87 đang đi ngược chiều đến đã bị trượt ngã, cả người và xe mô tô của chị T8 văng rê ở phần đường bên phải theo chiều đi (chiều T đi P) đã va vào bánh xe ô tô do T điều khiển. Hậu quả: Chị T8 tử vong, xe mô tô bị hư hỏng, mũ bảo hiểm của chị T8 bị vỡ, tổng thiệt hại 970.000 đồng. Hành vi của Hà Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 3, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019 của Bộ G2. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi

của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ và được tặng danh hiệu “chiến sỹ tiên tiến” vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân xẩy ra tai nạn cũng một phần do lỗi của bị hại; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, diện hợp pháp bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC mang tên Hà Văn T cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Giao bị cáo Hà Văn T cho UBND xã xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC mang tên Hà Văn T.
  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện LN;
  • - UBND xã Mỹ Thái, Lạng Giang;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HSST ngày 17/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 159/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xet xu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger