Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-PT

Ngày: 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Thị Bích Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Thụ lý số: 116/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo, Bùi Văn C, Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Văn C, sinh năm: 1986 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã L, huyện N, Thanh Hóa; nơi cư trú: Số I hẻm C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C1; con bà: Bùi Thị G; có vợ là Quách Thị H1, sinh năm: 1987 (Đã ly hôn) và 01 người con, sinh năm: 2009; tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 324/2014/HSST ngày 18/9/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2019/HSST ngày 25/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-7-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

  1. Họ và tên: Tống C (Tên gọi khác: B), sinh năm: 1993 tại Lâm Đồng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số D thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tống Văn P, sinh năm: 1958 và bà Cao Thị X, sinh năm: 1963; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 493/QĐ-XPHC ngày 20-3-2024, Chủ tịch UBND tỉnh L đã xử phạt bị cáo 37.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép đồ chơi nguy hiểm bị cấm; Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao”

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

  1. Họ và tên: Trần Nguyễn Thu H (Tên gọi khác: S), sinh năm: 1993 tại Lâm Đồng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: số A đường T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trung P1; con bà: Nguyễn Thị L; chồng Vũ Văn Đ, sinh năm 1986 (Đã ly hôn) và 02 người con lớn nhất, sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến của phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tống C, Bùi Văn C, Trần Nguyễn Thu H đều là các đối tượng nghiện ma túy đá và thường đến chơi ở căn nhà số : hẻm C, phường A, thành phố Đ do Phạm Linh T, sinh năm: 1998; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện Đ thuê. Khoảng 01 giờ 00 ngày 06-7-2023, T đưa cho C 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamonds và dặn C cất giữ, khi nào Quí cần thì đưa cho Q, C đồng ý rồi mang về căn nhà mà T thuê để cất giữ. Đến khoảng 02 giờ sáng cùng ngày, sau khi đi từ Thành Phố Hồ Chí Minh về huyện Đ, Q gọi điện thoại hẹn H (người yêu của Q) đến nhà trọ của T chơi; khi H cùng Q đến thì gặp C ở tầng 1, sau đó cả ba cùng đi ngủ. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, do bản thân muốn sử dụng ma túy nên Quí thức dậy, nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Trần Thị Mỹ H2 (bạn gái của T) hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy để cấn trừ vào số tiền trước đây H2 mượn của Q thì H2 đồng ý; một lúc sau T gọi qua messenger của H2 nói cho Q biết T đã đưa ma túy cho C thì Q nói C đưa đồ nên C lấy gói thuốc mà T đã đưa trước đó và mở ra thấy bên trong gói thuốc có 01 gói ma túy. Khi đó C đưa gói thuốc chứa ma túy cho Q, Q lấy một ít ma túy tương ứng với số tiền 1.000.000 đồng rồi hàn kín phần còn lại, bỏ vào trong gói thuốc lá mà C đưa khi nãy; tuy nhiên do lấy nhiều hơn phần đã mua nên Q lấy phần ma túy bị dư bỏ vào trong 01 gói nylon, hàn kín lại rồi bỏ vào trong túi nylon bên ngoài gói thuốc lá và đưa cho C cất vào trong hộp giấy nắp màu đen có dòng chữ “LIGHTER” để ở dưới kệ tủ rồi C đi ngủ. Cùng lúc này H tỉnh dậy ngồi chơi điện thoại, không để ý việc Q và C đã trao đổi gì với nhau. Sau khi lấy được

ma túy, Q phân chia thành 03 gói nhỏ: 01 gói nylon chứa ma túy Q đưa cho H để H cất vào ốp lưng điện thoại, 01 gói nylon ma túy Quí cất vào trong ốp lưng chiếc điện thoại của Q; đối với gói ma túy còn lại, Q lấy một ít cho vào dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong phòng, dùng quẹt đốt nóng và sử dụng được 02 hơi, số ma túy còn lại Quí bỏ trong gói nylon, hàn kín lại rồi bỏ vào gói nylon bên ngoài gói thuốc lá hiệu Seven diamond và cất giữ dưới nệm. Sau đó Q đi xuống tầng trệt căn nhà để dọn dẹp. Một lúc sau khi Q đi, H thấy trong nỏ còn ít ma túy nên đã tự lấy sử dụng 02 hơi thì hết ma túy nên H bỏ về vị trí cũ. Đến 09 giờ sáng cùng ngày, C tỉnh dậy thì thấy trong bình nỏ ở trong phòng còn một ít ma túy nên C đã tự lấy sử dụng được 01 hơi thì hết ma túy.

Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính, phát hiện ở tầng trệt của căn nhà có 02 thanh niên tên Lục Minh C2, sinh năm: 2001; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Đ và Lê Thanh B1, sinh năm: 2007; nơi cư trú: thôn E, xã P, huyện L và phát hiện sau ốp lưng điện thoại ở trong túi quần bên trái của Q có 01 gói nylon màu trắng trong, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tiếp tục kiểm tra, Công an phát hiện Bùi Văn C, Trần Nguyễn Thu H đang ở tại tầng một của căn nhà. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ của C 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seven Diamond, dán tem số 05583059, bên trong bao nylon của gói thuốc có 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; bên trong gói thuốc này có chứa 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước 4x5cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; đồng thời thu giữ 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước khoảng 3x1cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý ở bên trong ốp điện thoại hiệu Iphone 12 Promax màu trắng của H. Qua test nhanh, Q, H, C và B1 đều dương tính với chất ma túy nên Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ, niêm phong số ma túy và tang vật tại hiện trường theo quy định.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ tại hiện trường:

  • + 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu là M).
  • + 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seven Diamond, dán tem số 05583059, bên trong bao nylon của gói thuốc có 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước khoảng 1,5x3cm, chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; bên trong gói thuốc này có chứa 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước 4x5cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (ký hiệu là M1).
  • + 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước khoảng 3x1cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý phát hiện bên trong ốp điện thoại hiệu Iphone 12 Promax màu trắng (ký hiệu là M2).
  • + 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Seven Diamond dán tem số 27079407, bên trong có 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước 1,5x3cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (ký hiệu là M3).
  • + 01 hộp giấy nắp màu đen hiệu “LIGHTER".
  • + 01 hộp kim loại màu bạc, bên trong có một cân điện tử màu đen.
  • + 01 ống hút màu đen, một đầu được hàn kín, một đầu được cắt vát.
  • + 02 kéo kim loại.
  • + 01 quẹt ga tự chế.
  • + 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu đỏ-trắng, 01 ống thuỷ tinh được uốn cong, có bầu tròn hở.
  • + 01 túi màu đen, có dây đeo, trên bề mặt có ghi dòng chữ “Jeep BULUO”.
  • + 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn sim số 0967024934.
  • + 01 điện thoại nắp trượt có phím bấm nhãn hiệu NOKIA màu vàng đồng, bên trong không gắn sim.
  • + 01 khối kim loại màu đen hình dạng khẩu súng ngắn, trên bề mặt có ghi dòng chữ “M84.177cal.4.5mm-09Q02916”, bên trong ốp tay cầm bằng nhựa có 01 ống kim loại hình trụ tròn, màu vàng đồng có ghi dòng chữ “GAMO”, 01
  • thanh kim loại màu đen, có ghi số 177, bên trong có một đoạn lò xo, 10 viên kim loại hình cầu đường kính khoảng 04mm (ký hiệu là NS2 1903973).
  • + 04 ống kim loại hình trụ tròn màu vàng đồng, mỗi ống có kích thước 8cmx1.5cm có ghi dòng chữ “GAMO” (ký hiệu là NS3 2018863).
  • + 02 túi nylon màu trắng trong dạng túi zip, bên trong chứa các viên kim loại hình cầu, đường kính khoảng 4mm, một túi chứa 224 viên, túi còn lại chứa 326 viên (ký hiệu là NS3 2018861).
  • + 01 ống kim loại hình trụ, hình dáng viên đạn, kích thước 2,5x0,6cm, thân màu vàng đồng, đầu màu xám (ký hiệu là NS3 2018859).

- Tạm giữ của T1 Cao Quí:

  • + 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen, có gắn ốp màu đen, bên trong gắn sim số: 0917496820.

- Tạm giữ của Trần Nguyễn Thu H:

  • + 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu trắng, bên trong gắn sim số 0337337394.
  • + 01 căn cước công dân số [...] tên Trần Nguyễn Thu H.
  • + 01 thẻ visa Ngân hàng T2 mang tên Tran N Thu Hien.

- Tạm giữ của Bùi Văn C:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S màu đen, bên trong gắn sim số 0917473770.
  • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu trắng, bên trong gắn sim số 0974745349.
  • + 01 Căn cước công dân số [...] tên Bùi Văn C.

Tại Bản kết luận giám định số 849/KL-KTHS ngày 11/07/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5927g, loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 850/KL-KTHS ngày 11/07/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh L kết luận:

  • Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,6456g, loại Methamphetamine.
  • Mẫu tinh thể (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1760g, loại Methamphetamine.
  • Mẫu tinh thể (M3) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2357g, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ

Tại Bản kết luận giám định số 876/KL-KTHS ngày 26/07/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh L kết luận:

  • Vật dạng khẩu súng ngắn có kích thước tổng thể 13,4cm x 17,3cm (NS2 1903973) gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng (Là súng bắn đạn bi bằng khí nén thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm).
  • Các viên kim loại chứa trong thanh kim loại dạng hộp tiếp đạn (NS2 1903973 và NS3 2018861) không phải là đạn sử dụng cho vũ khí quân dụng (Là đạn bi kim loại dùng cho khẩu súng gửi giám định).
  • Viên kim loại dạng viên đạn màu vàng, mũi tù màu xám, mặt ngoài đáy ký hiện “C” (NS3 2018859) không phải đạn sử dụng cho vũ khí quân dụng (Là đạn thể thao quốc phòng cỡ 5,6mm)
  • Các khối kim loại hình trụ tròn, màu vàng, mỗi khối có chữ “GAMO (NS3 2018863) và thanh kim loại dạng hộp tiếp đạn (NS2 1903973) không phải là các bộ phận của vũ khí quân dụng (Là bình nén hơi và hộp tiếp đạn bi kim loại sử dụng cho khẩu súng gửi giám định).

Cáo trạng số: 129/Ctr-VKSÐL ngày 26 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Bùi Văn C về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST; ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn C, Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy””

  • Áp dụng điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.
  • Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Cao Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.
  • Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Thu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.

Ngày 21,22,23/5/2024, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử các bị cáo, không kêu oan, không khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo, không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm
  3. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ ngày 06-7-2023, Phạm Linh T đưa cho Bùi Văn C 01 gói thuốc lá hiệu Seven Diamond, bên trong chứa Methamphetamine nhờ C cầm giúp thì C đồng ý và mang về căn nhà T thuê tại số I hẻm C, Phường A, thành phố Đ cất giấu. Sau đó Tống Cao Q cùng Trần Nguyễn Thu H đến đây chơi và ngủ lại cùng C. Khoảng 05 giờ cùng ngày, do nhu cầu muốn sử dụng ma tuý nên Q đã liên lạc với T và Trần Thị Mỹ H2 (Bạn gái của T) mua 1.000.000 đồng tiền ma tuý đá để sử dụng thì biết được C đang giữ ma tuý. Lúc này Q lấy đủ khối lượng ma tuý đã mua và đưa lại cho C 3,6456 gam để C cất giấu cho T. Đối với số ma tuý đã mua, Q chia ra thành 03 gói nhỏ: 01 gói khối lượng 0,1760 gam Q đưa cho H để H cất vào ốp lưng điện thoại sử dụng, 01 gói khối lượng 0,5927gam Quí cất vào trong ốp lưng điện thoại của Q và 01 gói còn lại Q cho một ít vào dụng cụ sử dụng ma tuý có sẵn, tự đốt nóng và sử dụng 02 hơi rồi bỏ đi dọn dẹp, số ma tuý còn lại có khối lượng 0,2357 gam Quí bỏ trong gói nylon, hàn kín lại rồi bỏ vào gói nylon bên ngoài gói thuốc lá hiệu Seven Diamond. Sau đó H và C lần lượt cầm lấy dụng cụ ma tuý trên tự đốt và sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy và tang vật tại hiện trường. Tại Bản kết luận giám định số 849, 850/KL-KTHS ngày

11/07/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận các mẫu tinh thể đựng trong các gói nylon là loại Methamphetamine.

Bị cáo C giữ vai trò cao nhất trong 03 bị cáo vì là người cất giữ khối lượng ma tuý là nhiều nhất (4.65 gam, loại Methamphetamine, vì ngoài khối lượng ma tuý 3,6456 gam bị thu giữ, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma tuý 1.0044 gam đã giao cho Q cất giữ), sau đó tiếp nhận thông tin từ đối tượng T để giao cho bị cáo Q.

Bị cáo Q giữ vai trò thứ hai vì cất giữ khối lượng ma tuý nhiều sau bị cáo C (1.0044gam, loại Methamphetamine, vì ngoài khối lượng ma tuý 0.7687 gam bị thu giữ, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma tuý 0,1760 gam đã giao cho H cất giữ), sau đó phân nhỏ để cất giữ một phần còn giao cho bị cáo H cất giữ một phần.

Bị cáo H giữ vai trò thấp nhất trong 03 bị cáo vì khối lượng ma tuý bị cáo cất giữ ít nhất có khối lượng là 0,1760 gam, Methamphetamine sau khi tiếp nhận khối lượng ma tuý này thì bị cáo không giao cho ai khác cất giữ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Bùi Văn C, Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn C; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tống Cao Q1, Trần Nguyễn Thu H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

  1. Xét kháng cáo của các bị cáo, thì thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Văn C với mức án 07 (bảy) năm tù, bị cáo Tống Cao Q mức án 36 (ba mươi sáu) tháng tù, bị cáo Trần Nguyễn Thu H mức án 24 (hai mươi bốn) tháng tù là phù hợp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do

vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp

  1. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn C, Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm o, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.
  • Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Cao Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.
  • Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Thu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2023.
  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Bùi Văn C, Tống Cao Q, Trần Nguyễn Thu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND thành phố Đà Lạt (02);
  • - VKSND thành phố Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA thành phố Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan THAHS thành phố Đà Lạt (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal appeal case)

  • Số bản án: 159/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Appeal Case)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi văn cường - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger