|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày 18 - 7 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Hiêng và bà Nguyễn Thị Việt Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 163/2024/HSST, ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn Đ (Tên gọi khác: Không có); Sinh năm 1996; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ dân phố 01, thị trấn M Ch, huyện M C, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn L, đã chết và bà Lò Thị Th; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không
Tiền sự: 01 tiền sự ngày 26/01/2024 bị áp dụng Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 12/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt 07 năm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 21/01/2021 Đ chấp hành xong toàn bộ bản án đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Lò Văn L (Tên gọi khác: Không có) - sinh năm 1996; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn M Ch, huyện M C, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Th, đã chết và bà Lò Thị T; Vợ: Tòng Thị Phúc, ly hôn bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền sự, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 16/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/3/2024 Lò Văn Đ, Lò Văn L đi bộ từ bản Tông Khao, xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên để về công trình tại khu vực phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, trên đường về, L rủ Đ góp 50.000 đồng, tổng 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng, Đ đồng ý. L đưa 50.000 đồng cho Đ cầm rồi cả 2 đi xuống bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên tìm mua ma túy. Đến giữa bản Xôm, L đứng lại chờ xem có Công an không, thì thông báo cho Đ. Đ tiếp tục đi vào trong bản thì gặp và mua của một người thanh niên không quen biết đứng ở ven đường một gói ma túy với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy Đ cầm trong lòng bàn tay trái rồi quay lại chỗ L và ra hiệu cho L biết đã mua được ma túy, rồi cả hai đi bộ về phường Noong Bua. Đến hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày khi hai đi đến tổ 8, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ thì bị tổ công tác Công an phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 0,1 gam Heroine, đã gửi đi giám định, sau khi giám định hoàn lại 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng.
Tại bản kết luận giám định số: 567/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,1 gam Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,07 gam Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 98/CT-VKSTPĐBP ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố các bị cáo Lò Văn Đ, Lò Văn L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 13 tháng đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, do các bị cáo không có khả năng thi hành.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (được hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, bản tự khai, các bản cung, biên bản ghi lời khai, có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 12 giờ 30 phút, ngày 16/3/2024 tại khu vực phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ Tổ công tác Công an phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt bắt quả tang Lò Văn Đ và Lò Văn L đã có hành vi tàng trữ 0,1 gam Heroine, mục đích để bản thân các bị cáo sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"
Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo không có sự phân công vai trò trách nhiệm cụ thể cho từng người nên vụ án không có tổ chức. Các bị cáo cùng là người thực hiện hành vi phạm tội, L là người khởi sướng việc mua ma túy, cả hai cùng góp tiền cùng đi mua ma túy nên có vai trò ngang nhau.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên các bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, các bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Bị cáo Lò Văn Đ và bị cáo Lò Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Tiền sự: 01 tiền sự ngày 26/01/2024 bị áp dụng Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Nhân thân: Ngày 12/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt 07 năm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 21/01/2021 Đ chấp hành xong toàn bộ bản án đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo L: Về nhân thân của bị cáo, bị cáo chưa bị cơ quan nào xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị Tòa án nào đưa ra xét xử. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
[4]. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho các bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị và các bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo không có khả năng thi hành.
[6]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine, đã gửi đi giám định, sau khi giám định hoàn lại 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[7]. Các vấn đề khác: Đối với người thanh niên không quen biết đã bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra không xác minh làm rõ được, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[8]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[9]. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Đối với bị cáo Lò Văn Đ áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Lò Văn L áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Đ và Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (16/3/2024).
- - Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (16/3/2024).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (được hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng.
(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024);
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Huyền |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử Điêp 01 năm 03 tháng tù giam; xử Long 01 năm 01 tháng tù giam
