|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2024/DS-ST
Ngày: 17-7-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 283/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 577/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ trụ sở: 266 – B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N
(Văn bản ủy quyền ngày 03/8/2023)
-
Bị đơn: Ông Mai Mạnh C, sinh năm 1992
Địa chỉ: G T, Phường A, Quận D, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, ông Thân Lê N - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày: Ngày 18/11/2019, ông Mai Mạnh C có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tín dụng Visa (số thẻ 472074 - 8409) với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 44.622.692 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông C đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 23.700.274 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/4/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 33.979.215 đồng sang nợ quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%). (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 17/7/2024, ông C còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 33.979.215 đồng; Lãi quá hạn: 52.212.486 đồng; Tổng cộng: 86.191.701 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông C có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông C vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết và tuyên buộc những vấn đề sau đây:
Buộc ông Mai Mạnh C phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 86.191.701 đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 33.979.215 đồng; Lãi quá hạn: 52.212.486 đồng. Ông Mai Mạnh C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Bị đơn ông Mai Mạnh C vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông C cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
-
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, như vậy có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”. Theo kết quả xác minh của công an P, Quận D: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại G T, Phường A, Quận D nhưng đã bán nhà năm 1994, hiện không thực tế cư trú tại địa phương, bỏ đi đâu không rõ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Mai Mạnh C trả toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ký ngày 18/11/2019.
Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định ngày 18/11/2019, ông Mai Mạnh C có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Mai Mạnh C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 44.622.692 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông C đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 23.700.274 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ số tiền còn thiếu. Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/4/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 17/7/2024, ông C còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 33.979.215 đồng; Lãi quá hạn: 52.212.486 đồng; Tổng cộng: 86.191.701 đồng.
Xét việc thỏa thuận giữa các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng mà các bên đã ký kết. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu là có cơ sở.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các Điều 90; 91; 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng, căn cứ vào các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Mai Mạnh C có trách nhiệm trả cho nguyên đơn một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền còn phải thanh toán tạm tính đến hết ngày 17/7/2024 là 86.191.701 đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 33.979.215 đồng; Lãi quá hạn: 52.212.486 đồng và toàn bộ số tiền nợ lãi được tính, tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi ông C trả hết nợ gốc cho Ngân hàng TMCP S.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-
- Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các Tổ chức tín dụng;
-
- Căn cứ vào Điều 463, 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
-
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
-
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S, buộc bị đơn ông Mai Mạnh C có nghĩa vụ thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn số tiền còn phải thanh toán tính đến hết ngày 17/7/2024 là 86.191.701 (Tám mươi sáu triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm lẻ một) đồng, trong đó bao gồm: Dư nợ gốc: 33.979.215 đồng; Lãi quá hạn: 52.212.486 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ký ngày 18/11/2019.
Ông Mai Mạnh C phải tiếp tục thanh toán toàn bộ số tiền nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi ông Mai Mạnh C trả hết nợ gốc cho Ngân hàng TMCP S.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
-
Bị đơn phải nộp: 4.309.585 (Bốn triệu ba trăm lẻ chín nghìn năm trăm tám mươi lăm) đồng.
-
Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là 1.715.000 (Một triệu bảy trăm mười lăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0042619 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
-
-
Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Tấn Phát |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Đông Nguyệt Đinh Kim Hoàng |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 159/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 159/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
