Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

* **

Bản án số 159/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Văn Hoan
  2. Ông Đặng Như Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tố Lan - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 26/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 10/05/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hồng A, sinh ngày 21/05/1995; HKTT: Số A ngõ E N, phường V, quận Đ, Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số A ngõ E phường P, quận H, Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H; chung sống như vợ chồng với Ngô Trọng T (chưa đăng ký kết hôn), có 03 con; tiền án, tiền sự: không

    D chỉ bản số 61 lập ngày 19/01/2024 tại Công an quận T. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

  2. Ngô Trọng T, sinh ngày 15/02/2006; HKTT: SỐ E ngõ T, phường H, quận H, Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số A ngõ E phường P, quận H, Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô B, sinh năm 1975 và bà Đoàn Thị S, sinh năm 1979; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Hồng A (chưa đăng ký kết hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: không

    D chỉ bản số 62 lập ngày 19/01/2024 tại Công an quận T. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Dương Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H – Có mặt

1

- Người bị hại: Chị Hoàng Thùy D1, sinh ngày 09/6/2006; HKTT: Tổ dân phố B, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở hiện nay: số H ngõ E T, phường P, quận B, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị S (mẹ đẻ Ngô Trọng T), sinh năm 1979; HKTT: Số E Ngõ T, phường H, quận H, Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số A ngõ E P, phường P, quận H, Hà Nội (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hồng A và chị Hoàng Thùy D1 quen biết nhau thông qua mạng xã hội Facebook. Quá trình quen biết nhau, Hồng A búc xúc với chị D1 do chị D1 đã trình báo Công an phường P, quận H, Hà Nội việc Hồng A sử dụng “Bóng cười” dẫn đến việc Công an phường P đến kiểm tra hành chính nơi cư trú của Hồng A. Ngày 16/7/2023, khi gặp chị D1 tại Công viên H, Hà Nội, Hồng A đã dùng tay phải tát 02 lần, dùng dép đánh khoảng 3 – 4 lần vào mặt và dùng mũ bảo hiểm đánh 02 lần vào lưng chị D1 đồng thời yêu cầu chị D1 phải đến nhà của Hồng A để xin lỗi bố mẹ chồng Hồng A.

Tối ngày 17/7/2023, do lo sợ khi đến nhà Hồng A sẽ bị đánh nên chị D1 nhờ anh Nguyễn Mạnh T1 (sinh ngày 26/12/2007; nơi cư trú: Số B ngách F Đ, tổ dân phố A phường T, quận N, Hà Nội) rủ thêm một số bạn khác của anh T1 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi cùng chị D1 đến nhà Hồng A để nói chuyện. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh T1 chở chị D1 đi cùng nhóm bạn này đến nhà Hồng A tại địa chỉ số A ngõ E P, phường P, quận H, Hà Nội. Khi đến nơi, chị D1 đi vào trong nhà còn anh T1 và các bạn của anh T1 đứng ở ngoài ngõ chờ. Khi thấy chị D1 đi cùng nhiều người đến nhà, Hồng A cho rằng chị D1 đến để đánh nhau nên đã liên hệ với Nguyễn Duy A1 (sinh ngày 11/2/2006; nơi cư trú: số B ngách E Ngõ V, phường H, quận Đ, Hà Nội) nói về việc chị D1 kéo bạn bè đến nhà và nhờ Duy A1 đến hỗ trợ, đề phòng xảy ra đánh nhau. Tiếp đó, Hồng A dùng tay phải tát 02 cái vào mặt và dùng chân đạp vào đùi phải của chị D1. Do thấy Hồng A đánh chị D1 nên bà Đoàn Thị S đã can ngăn nên Hồng A cùng Ngô Trọng T đi ra ngoài ngõ. Sau đó, chị D1 cũng được bà S đưa ra ngoài. Chị D1 đi ra ngoài bảo các bạn của T1 đi về, còn T1 ở lại chờ để đưa chị D1 về nhà. Hồng A tiếp tục dùng tay phải tát 02 cái vào mặt chị D1 thì bà S tiếp tục can ngăn Hồng A. Đúng lúc này thì Nguyễn Duy A1 cùng một số bạn của Duy A1 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi đến. Thấy vậy, Hồng A đã cùng Ngô Trọng T và nhóm của Nguyễn Duy A1 bỏ đi. Chị D1 lên xe máy do anh T1 điều khiển để đi về. Khi anh T1 chở chị D1 đi tới khu vực cạnh số nhà G P thì bị nhóm của Hồng A chặn lại. Tại đây, Hồng A bảo anh T1 đi về trước vì không liên quan và yêu cầu chị D1 lên xe đi cùng với nhóm của Hồng A để tiếp tục đi giải quyết mâu thuẫn. Do sợ bị Hồng A đánh nên chị D1 bảo anh T1 đi về trước và lên xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc mang BKS: 29C2-01633 do T điều khiển theo yêu cầu của Hồng A. Sau đó, Hồng A cũng lên xe mô tô trên (T điều khiển xe, chị D1 ngồi

2

giữa, Hồng A ngồi sau cùng) rồi cùng với nhóm của Duy A1 đi lòng vòng qua các tuyến đường phố của Hà Nội, khi đến trước nhà số F ngõ D T, phường K, quận T, Hà Nội thì dừng lại. Tại đây, Hồng A dùng tay phải tát 03 cái vào mặt chị D1 khiến mũ bảo hiểm của chị D1 bị rơi xuống đất. Hồng A nhặt mũ bảo hiểm trên lên rồi dùng mũ đánh vào người chị D1 khoảng 3 - 4 cái, cùng lúc có 02 người phụ nữ trong nhóm đi cùng Duy A1 cũng lao vào dùng tay đánh chị D1. Lúc này, anh Nguyễn Thành T2 (SN: 1986; nơi cư trú: số I ngõ D T, phường K, quận T, Hà Nội) chứng kiến sự việc nên đã hô hoán nên nhóm Hồng A lên xe và bỏ chạy.

*Vật chứng thu giữ

  • - 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, BKS 29C2-016.33, SK: RLHJA3925PY410960, SM: JA39E3021033 (của Ngô Trọng T)
  • - 01 (một) điện thoại di động Oneplus 6T màu đen, số Imeil: 866241041183453, số Imei2: 866241041183446 (của Ngô Trọng T)
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, số Imeil: 353891109589627, số Imei2: 353891109763511 (của Nguyễn Hồng A)

Tại Cơ quan điều tra, chị D1 khai nhận sự việc như trên, đồng thời từ chối khám thương, giám định thương tích, tự chịu trách nhiệm về sức khỏe của bản thân. Tại Cơ quan điều tra, Hồng A và T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên. Hồng A khai bản thân chỉ gọi mình Duy A1 đến chứ không yêu cầu Duy A1 gọi thêm người khác.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTX ngày 22/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Nguyễn Hồng Anh và Ngô Trọng Tấn về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hồng A từ 24 đến 26 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng.
  • - Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Trọng T từ 16 đến 18 tháng tù tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 đến 36 tháng

Cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hồng A và bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của hai bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

3

vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Xuất phát từ việc có mâu thuẫn với chị Hoàng Thùy D1, ngày 17/7/2023, Nguyễn Hồng A đã đánh chị D1 và bắt chị D1 lên xe máy do T điều khiển để đi cùng Hồng A đến chỗ vắng người tiếp tục giải quyết mâu thuẫn. Do sợ bị đánh nên chị D1 buộc phải lên xe của THồng A (T điều khiển xe, chị D1 ngồi giữa, Hồng A ngồi sau cùng). T chở chị D1Hồng A đi lòng vòng từ khu vực cửa khẩu P qua nhiều tuyến phố Hà Nội. Khi đi được khoảng 30 phút, đến 22 giờ cùng ngày tại trước nhà số F ngõ D T, phường K, quận T, Hà Nội thì T dừng lại. Tại đây, Hồng A tiếp tục đánh chị D1, sau đó bị phát hiện thì nhóm Hồng A bỏ chạy.

Do chị D1 chưa đủ 18 tuổi nên hành vi nêu trên của Hồng AT đã phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó Hồng A thực hiện hành vi phạm tội với vai trò cao hơn T.

[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Hồng A phạm tội khi đang có thai, bị cáo T là người chưa thành niên phạm tội nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chính sách xử lý đối với người chưa thành niên theo quy định của pháp luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong khoảng thời gian rất ngắn; do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc gia đình, tu dưỡng bản thân để phát triển thành người có ích, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không đề nghị các bị cáo phải bồi thường dân sự nên Toà không xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động Oneplus 6T màu đen (số I 866241041183453, số Imei2 866241041183446) của T và điện thoại di động Iphone 11 Promax (số I 353891109589627, số Imei2 353891109763511) của Hồng A do cơ quan điều tra đã tạm giữ trong quá trình điều tra, đã tiến hành kiểm tra dữ liệu trong điện thoại không phát hiện thông tin gì có liên quan đến vụ án. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý trao trả 02 chiếc điện thoại nêu trên cho THồng A.

4

- Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, BKS 29C2-016.33 (SK: RLHJA3925PY410960; SM: JA39E3021033). Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên là bà Đoàn Thị S, xe không có trong dữ liệu xe tang vật. Bà S không biết việc THồng A sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Bà S đề nghị được trả lại chiếc xe trên. Xét yêu cầu của bà S là hợp pháp nên chấp nhận.

[6] Về nhóm người tham gia vào tối ngày 17/7/2023, Cơ quan điều tra đã triệu tập đối với Duy A1 nhưng Duy A1 vắng mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan CSĐT - Công an quận T chưa làm việc được với Duy A1 và chưa xác định được thông tin của những người đi cùng Duy A1 đến nhà Hồng A vào tối ngày 17/7/2023. Ngày 21/3/2024, Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ, tài liệu liên quan đến Duy A1 cùng nhóm đối tượng đi cùng để điều tra, xử lý sau.

[7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hồng A

Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Ngô Trọng T

Căn cứ vào các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng A, Ngô Trọng T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
  2. Xử phạt Nguyễn Hồng A 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Xử phạt Ngô Trọng T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Hồng A, T cho UBND phường P, quận H, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5

  1. Xử lý vật chứng:

    Trả cho bà Đoàn Thị S 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh bạc, BKS 29C2-016.33 (số khung: RLHJA3925PY410960; số máy: JA39E3021033) (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

  2. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về bắt, giữ người trái pháp luật (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 159/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng A, Ngô Trọng T phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger