Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/DS-PT
Ngày: 16/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Ngọc Tuấn;
ông Nguyễn Phước Hưng.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 176/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Diệp Kim C, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ G, khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ G, khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Diệp Kim C có ý kiến trình bày:

Bà có tổ chức mở các dây hụi do bà làm chủ hụi và hưởng hoa hồng, gồm hụi ngày, hụi 10 ngày và hụi tuần cho các hụi viên tham gia trong đó có bà Lê Thị Mỹ L. Bà L tham gia 10 phần hụi ngày, 03 phần hụi 10 ngày và 02 phần hụi tuần, bà L đã lĩnh đủ các phần hụi, sau khi lĩnh hụi xong, bà L không góp phần hụi còn lại cụ thể như sau:

+ Dây hụi thứ nhất: Dây hụi ngày, được mở ngày 01/10/2022 âm lịch và kết thúc ngày 01/12/2022 âm lịch. Loại 01 ngày/kỳ, mỗi kỳ 50.000 đồng, mở 60 kỳ, bà L tham gia 10 phần, bà L lãnh hụi 10 phần vào kỳ đầu tiên với tổng số tiền 26.640.000 đồng. Sau khi lãnh hụi bà L đã đóng hụi được 26 kỳ, còn lại 34 kỳ chưa đóng do vậy bà L còn nợ 34 x 500.000 = 17.000.000 đồng.

+ Dây hụi thứ hai: Mở ngày 29/11/2021 âm lịch và kết thúc ngày 29/10/2022 âm lịch, đây là dây hụi 10 ngày/kỳ, mỗi kỳ 1.000.000 đồng, mở 34 kỳ, bà L tham gia 03 phần và đã lĩnh hụi đủ 03 phần, bà L đóng được 33 kỳ, còn nợ kỳ thứ 34 số tiền là 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, dây hụi này có nhiều chứng cứ buộc phải chứng minh nên bà xin rút lại yêu cầu đối với dây hụi mở ngày 29/11/2021.

+ Dây hụi thứ 3: Mở ngày 30/10/2022 âm lịch và kết thúc ngày 10/6/2023 âm lịch, đây là dây hụi loại 01 tuần/kỳ, mỗi kỳ 1.000.000 đồng, mở 33 kỳ, bà L tham gia 02 phần và đã lĩnh đủ 02 phần với số tiền 49.750.000 đồng. Dây hụi này bà L đóng hụi được 03 kỳ còn nợ 30 kỳ chưa đóng, như vậy 30 x 2.000.000 = 60.000.000 đồng.

Tổng số tiền của 02 dây hụi bà L còn nợ bà là 77.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi bà khởi kiện bà L ra Tòa án thì bà L có đóng hụi được 6.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tấn P, như vậy bà L còn nợ 71.000.000 đồng (77.000.000 đồng – 6.000.000 đồng).

Nay, bà Diệp Kim C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Mỹ L trả số tiền 71.000.000 đồng.

* Bị đơn bà Lê Thị Mỹ L trình bày: Bà thừa nhận bà có tham gia 03 dây hụi nêu trên, hụi do bà Diệp Kim C làm chủ hụi, cụ thể:

+ Dây hụi thứ nhất: Dây hụi ngày, được mở ngày 01/10/2022 âm lịch và kết thúc ngày 01/12/2022 âm lịch. Loại 01 ngày/kỳ, mỗi kỳ 50.000 đồng, mở 60 kỳ, bà có tham gia 10 phần, bà đã lãnh hụi 10 phần vào kỳ đầu tiên với tổng số tiền 26.640.000 đồng. Sau khi lãnh hụi từ bà C bà đã đóng hụi được 34 kỳ, còn lại 17 kỳ, như vậy 17 x 500.000 đồng = 8.500.000 đồng.

+ Dây hụi thứ hai: Mở ngày 29/11/2021 âm lịch, kết thúc vào ngày 29/10/2022 âm lịch do bà C rút lại yêu cầu nên bà không ý kiến.

+ Dây hụi thứ ba: Mở ngày 30/10/2022 âm lịch và kết thúc ngày 10/6/2023 âm lịch, đây là dây hụi loại 01 tuần/kỳ, mỗi kỳ 1.000.000 đồng, mở 33 kỳ, bà tham gia 02 phần và đã lĩnh đủ 02 phần với số tiền 49.750.000 đồng. Dây hụi này bà đóng hụi được 08 kỳ (16.000.000 đồng), còn nợ 25 kỳ chưa đóng, như vậy 25 x 2.000.000 = 50.000.000 đồng.

Bà thừa nhận còn nợ bà C tổng cộng 58.500.000 đồng. Ngoài số tiền nêu trên bà còn trả góp cho ông P chồng bà C số tiền 6.000.000 đồng, đây là số tiền góp không thuộc dây hụi nào. Bà chỉ đồng ý trả tiền cho bà C tổng số tiền là 36.250.000 đồng theo cách tính như sau:

Tổng số tiền thực lãnh của dây hụi là 49.750.000 – 16.000.000 – 6.000.000 = 27.750.000 + 8.500.000 = 36.250.000 đồng.

Bà thừa nhận các lần đóng hụi cho bà C và ông P thì bà không có mở sổ tay theo dõi, bà chỉ nhớ và đánh dấu theo cách nhớ của riêng mình. Sau khi Tòa án tạm ngừng phiên tòa cho bà cung cấp thêm chứng cứ, đến ngày 29/3/2024, bà có bổ sung 02 tờ giấy, một tờ khoanh tròn từ 26, 27, 28, 29, 30 và ngược lại đến 8 và một tờ giấy khoanh tròn từ 16 đến 30 và ngược lại đến 28, đây là cách bà theo dõi ngày đóng hụi cho bà C nhưng không giải thích được cách tính.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn P có ý kiến trình bày: Ông thừa nhận có đến nhà bà Lê Thị Mỹ L góp hụi, bà L có gửi ông tổng số tiền 6.000.000 đồng, đây là tiền hụi bà L gửi đóng hụi sau khi vợ ông bà C khởi kiện bà L ra Tòa án, số tiền 6.000.000 đồng trên sẽ được trừ lại số tiền bà L còn nợ, ông thống nhất với ý kiến trình bày của bà C, ông không có ý kiến bổ sung.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tuyên xử:

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Kim C đối với bà Lê Thị Mỹ L về yêu cầu bà L trả 3.000.000 đồng, đối với dây hụi mở 29/11/2021.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Kim C tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với bà Lê Thị Mỹ L.

Buộc bà Lê Thị Mỹ L trả số tiền 61.000.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu đồng) cho bà Diệp Kim C.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà C về số tiền 10.000.000 đồng trong dây hụi mở ngày 30/10/2022.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 10/5/2024, bà Lê Thị Mỹ L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận cách tính của Tòa án về số tiền hụi buộc bà L phải trả 61.000.000 đồng theo bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn bà Diệp Kim C thống nhất với quyết định của Bản án sơ thẩm nhưng để tạo điều kiện cho bà L sớm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, bà đồng ý giảm bớt cho bà L số tiền 5.000.000 đồng. Bà xác định chỉ yêu cầu bà L trả số tiền nợ hụi cho bà là 56.000.000 đồng.

+ Bị đơn bà Lê Thị Mỹ L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, cho bà được trả số tiền hụi còn nợ là 36.250.000 đồng cho bà Diệp Kim C.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Mỹ L. Tại phiên toà, bà C tự nguyện giảm một phần nghĩa vụ trả tiền cho bà L; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang và ghi nhận sự nguyện của bà C chỉ yêu cầu bà L trả số tiền nợ hụi cho bà là 56.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bị đơn bà Lê Thị Mỹ L làm đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm, theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn bà L xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chỉ đồng ý trả cho bà C số tiền hụi còn nợ là 36.250.000 đồng và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới; Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chỉ yêu cầu bà L trả số tiền nợ hụi cho bà là 56.000.000 đồng.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Mỹ L, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Nguyên đơn bà C và bà L đều thống nhất 02 dây hụi mở ngày 01/10/2022 và dây hụi mở ngày 30/10/2022, danh sách hụi viên, sổ theo dõi hụi viên hốt hụi và đóng hụi và bà L thừa nhận có tham gia các dây hụi mở ngày 01/10/2022, ngày 30/10/2022 âm lịch các phần hụi bà L tham gia do bà C làm chủ nên căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự xác định các bên có tham gia hợp đồng góp hụi là có thật.

[2.2] Nguyên đơn trình bày bà L tham gia dây hụi mở ngày 01/10/2022 loại 01 ngày/kỳ, mỗi kỳ 50.000 đồng, mở 60 kỳ, bà L tham gia 10 phần và lãnh đủ 10 phần, bà L đã nộp được 25 kỳ, số kỳ còn lại bà L phải nộp là 34 kỳ với số tiền nợ hụi là 17.000.000 đồng. Đối với dây hụi mở ngày 30/10/2022 âm lịch và kết thúc ngày 10/6/2023 âm lịch, loại 01 tuần/kỳ, mỗi kỳ 1.000.000 đồng, mở 33 kỳ, bà L tham gia 02 phần. Trong đó bà L đã đóng được vào các ngày 30/10/2022, 06/11/2022, 13/11/2022 và góp thêm 05 kỳ hụi. Bà L phải góp thêm 25 kỳ với số tiền nợ hụi là 50.000.000 đồng. Tổng số tiền bà L còn nợ là 67.000.000 đồng, nhưng bà L có trả cho ông P là chồng bà C nhận số tiền 6.000.000 đồng được bà C xác nhận và thống nhất số tiền nợ còn lại là 61.000.000 đồng.

[2.3] Bị đơn L cũng thừa nhận bà có tham gia 02 dây hụi như bà C trình bày, bà cũng xác định đối với các dây hụi thì đối với dây hụi mở ngày 01/10/2022 bà còn nợ bà C 8.500.000 đồng và dây hụi mở ngày 30/10/2022 bà còn nợ 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà L chỉ đồng ý trả cho bà C số tiền 36.250.000 đồng.

[2.4] Bà L trình bày đối với dây hụi ngày 01/20/2022 bà cho rằng đã đóng hụi được 34 kỳ, còn nợ 17 kỳ tức 8.500.000 đồng nhưng trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay bà L không giải thích được những chứng cứ mà bà cung cấp để chứng minh trong việc xác định các lần bà đã đóng hụi, bà C không thừa nhận do đó không đủ cơ sở để xác định về quá trình đóng hụi của bà L với dây hụi trên nên cấp sơ thẩm buộc bà L có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi cho bà C với số tiền 61.000.000 đồng là có căn cứ.

[2.5] Bà C đồng ý giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho bà L với số tiền 5.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà L trả 56.000.000 đồng. Hội đồng xét thấy, đối với việc tự nguyện của nguyên đơn tại phiên tòa là có lợi cho phía bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà L; sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự tự nguyện của nguyên đơn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như trên.

[3] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Mỹ L.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang;

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Kim C đối với bà Lê Thị Mỹ L về yêu cầu bà L trả 3.000.000 đồng, đối với dây hụi mở 29/11/2021.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Kim C tranh chấp hợp đồng góp hụi đối với bà Lê Thị Mỹ L:

    Công nhận sự tự nguyện của bà Diệp Kim C tại phiên tòa về giảm một phần nghĩa vụ trả nợ số tiền 5.000.000 đồng cho bà Lê Thị Mỹ L.

    Buộc bà Lê Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả cho bà D Kim C số tiền 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà C đối với bà L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) trong dây hụi mở ngày 30/10/2022.
  3. Về án phí:

    3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Thị Mỹ L phải nộp 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

    Bà Diệp Kim C phải nộp 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 (Hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0008993 ngày 03/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên. Sau khi khấu trừ bà Diệp Kim C được nhận lại số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

    3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Mỹ L được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010894 ngày 10/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp - HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND Tx. Tịnh Biên;
  • - VKSND TX. Tịnh Biên;
  • - CCTHADS Tx. Tịnh Biên;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 159/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Diệp Kim C BĐ: Lê Thị Mỹ L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger