|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày 11/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trần Trường
- Ông Ngô Xuân Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lý Đức T, sinh năm 1995 (Tên gọi khác: không)
Nơi ĐKHKTT: Khu phố B C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Q, sinh năm 1965 và bà Đào Thị H, sinh năm 1969. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1990 (Tên gọi khác: không)
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1966 và bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Vũ Thị Mai A, sinh năm 1990; Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
2
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại trước cổng nhà Lý Đức T ở khu phố B C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ, thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lý Đức T có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý Heroine cho 01 nam thanh niên tự khai là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, ở khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa về trụ sở Công an thành phố T để giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T1 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói nhỏ được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1.
- 01 mảnh giấy màu trắng có ghi chữ và số: “XSMB ngày 9/1/2024 YT19439205 DR21880372".
- Thu giữ trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc số tiền 500.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng có số seri là YT19439205, HX18427233 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri là DR21880372.
Ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn Q1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và giao nộp:
- 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói nhỏ được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.
- Số tiền 100.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại khu phố B C, phường Đ, thành phố T. Kết quả đã phát hiện và thu giữ:
- Tại phòng ngủ tầng 02 đối diện cầu thang nhà T, thu giữ:
- 02 gói nhỏ, trong đó 01 gói được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 gói nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K1.
3
- Tại tủ góc tường nhà T 01 hộp giấy màu xanh có chữ “Dr.coolers”, bên trong hộp giấy có: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 gói nhỏ đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 gói nhỏ đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 gói nhỏ đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ, bên trong đều chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K2.
- Tại mặt bàn cách tủ góc tường 02m thu giữ: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K3.
- 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 54 túi nilon màu trắng, mỗi túi có kích thước (12x07)cm; 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm; 01 cân điện tử màu đen; 01 dao lam đã qua sử dụng; 15 mảnh túi nilon màu xanh, kích thước (04x05)cm; 20 mảnh túi nilon màu đỏ, kích thước (04x05)cm.
- Tại tủ giầy hành lang tầng 02 thu giữ 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có 04 túi nilon màu trắng, gồm: 01 túi bên trong chứa 14 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong mỗi gói chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng; 01 túi bên trong chứa 10 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi bên trong chứa 08 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi bên trong chứa 10 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ, bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Số ma tuý trong 04 túi nilon này được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K4.
- Tại phòng tầng 02 ngay cạnh phòng đối diện cầu thang thu giữ 01 hộp giấy màu đỏ bên trong chứa 03 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa 10 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Số ma tuý trong 03 túi nilon này được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K5.
Tại Kết luận giám định số 346/KL-KTHS, ngày 11/01/2024, phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,0838 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,1115 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,2315 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
4
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K2 gửi giám định có khối lượng là 2,7036 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K3 gửi giám định có khối lượng là 1,0825 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K4 gửi giám định có khối lượng là 2,4560 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K5 gửi giám định có khối lượng là 2,5826 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).”
- 14 (mười bốn) viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu K4 gửi giám định có khối lượng là 1,3360 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.”.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 9,2515 gam ma tuý Heroine và 1,3360 gam ma tuý Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Lý Đức T và Nguyễn Văn Q1 khai nhận như sau:
Bản thân T không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý và hiện đang sống một mình tại khu phố B C, phường Đ, thành phố T. Ngày 01/01/2024, T nảy sinh ý định đi mua ma tuý về bán lại kiếm lời. Sáng cùng ngày, T đi ra chợ gần nhà gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm và 01 cân điện tử màu đen mang về nhà. Tối ngày 01/01/2024, T đi đến khu phố C, phường Đ, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về bán lại. Tại đây, T gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý gồm 01 gói ma tuý bọc ngoài bằng túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 14 viên nén hình tròn màu hồng là ma tuý “ngựa” (Methamphetamine) với giá 7.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà cất giấu tại tầng 02. Sau đó, T lấy túi nilon chứa ma tuý Heroine ra sử dụng một phần tại nhà. Phần còn lại T dùng 01 con dao lam để chia nhỏ ma tuý, dùng 01 cân điện tử màu đen để cân ma tuý rồi dùng giấy màu bạc, các mảnh túi nilon màu xanh, các mảnh túi nilon màu đỏ gói lại. Thịnh chia được thành 50 gói ma tuý Heroine nhỏ đều được bọc ngoài là giấy màu bạc; 21 gói ma tuý Heroine nhỏ đều bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ và 21 gói ma tuý Heroine nhỏ đều bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh. Đối với 14 viên ma tuý “ngựa”, T chia ra thành 14 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong mỗi gói chứa 01 viên ma tuý “ngựa”. T lấy 01 gói ma tuý Heroine nhỏ đều bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ cho vào 01 túi nilon màu trắng và 01 gói ma tuý Heroine nhỏ đều bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh cho vào 01 túi nilon màu trắng. Thịnh cất 02 túi ma tuý Heroine này trong người mục đích để sau đó tìm người mua bán lại kiếm lời. Sau khi chia nhỏ ma tuý xong, T cất 02 gói ma tuý Heroine nhỏ gồm 01 gói được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh và 01 gói được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ tại phòng ngủ tầng 02 đối diện cầu thang nhà T. T lấy 10 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc cho vào 01
5
túi nilon màu trắng; 10 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh cho vào 01 túi nilon màu trắng; 10 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ cho vào 01 túi nilon màu trắng. 30 gói ma tuý Heroine này, T cất trong 01 hộp giấy màu xanh có chữ “Dr.coolers” rồi để trong tủ góc tường nhà T. T lấy 02 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc cho vào 01 túi nilon màu trắng rồi để trên mặt bàn cách tủ góc tường 02m. T lấy 14 gói ma tuý “ngựa” đã chia được cho vào 01 túi nilon màu trắng; 10 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh cho vào 01 túi nilon màu trắng; 08 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc cho vào 01 túi nilon màu trắng; 10 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ cho vào 01 túi nilon màu trắng. T cho 04 túi nilon này vào 01 hộp nhựa màu trắng và cất trong tủ giầy hành lang tầng 02. 30 gói ma tuý Heroine đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, T cho vào trong 03 túi nilon màu trắng (mỗi túi 10 gói), cất trong 01 hộp giấy màu đỏ rồi để trong phòng tầng 02 đối diện cầu thang. Thịnh cất giấu ma tuý ở nhiều nơi để tránh bị phát hiện và tiện cho việc bán lại kiếm lời.
T dự định bán 01 gói ma tuý Heroine được bọc ngoài là giấy màu bạc với giá 500.000 đồng/gói; 01 gói ma tuý Heroine được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ với giá 300.000 đồng/gói; 01 gói ma tuý Heroine được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh với giá 200.000 đồng/gói. 14 gói đều được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong mỗi gói chứa 01 viên ma tuý “ngựa” Thịnh dự định bán với giá 100.000 đồng/ viên.
Sáng ngày 09/01/2024, T mang theo 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói ma tuý Heroine nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói ma tuý Heroine nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh đã để trong người từ trước, đứng trước cổng nhà mục đích tìm người mua bán lại ma tuý để kiếm lời.
Khoảng 11 giờ ngày 09/01/2024, Q1 đi bộ đến phường Đ, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến đoạn đường trước cổng nhà T thì gặp T. Q1 hỏi mua của T 200.000 đồng ma tuý Heroine. T đồng ý. Q1 đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. T cầm tiền cất vào trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc rồi đưa lại cho Q1 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói ma tuý Heroine nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu xanh. Q1 cầm gói ma tuý T đưa rồi đi bộ đi tìm nơi sử dụng.
Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T vẫn đang đứng trước cửa nhà thì có 02 thanh niên đi đến. Tại đây, T1 hỏi mua của T 300.000 đồng ma tuý Heroine. T đồng ý, T1 đưa cho T số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri là YT19439205 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri là DR21880372. T cầm tiền cất vào trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc rồi đưa lại cho T1 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói ma tuý Heroine nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, tiếp đến là lớp nilon màu đỏ. Tuyền vừa
6
cầm gói ma tuý T đưa thì đúng lúc này lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Ngoài ra, Q1 khai nhận ngày 06/01/2024, tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Q1 gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý Heroine với giá 100.000 đồng, Q1 đã sử dụng hết.
Tại Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSTS ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố các bị cáo Lý Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn Q1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Nguyễn Văn Q1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt:
- Áp dụng: Điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Đức T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo Lý Đức T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng
- Lưu giữ 01 mảnh giấy màu trắng có ghi chữ và số: “XSMB ngày 9/1/2024 YT19439205 DR21880372";
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ hoàn lại theo Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 54 túi nilon màu trắng, mỗi túi có kích thước (12x07)cm; 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm;
7
- 01 dao lam đã qua sử dụng; 15 mảnh túi nilon màu xanh, kích thước (04x05)cm; 20 mảnh túi nilon màu đỏ, kích thước (04x05)cm; 01 cân điện tử màu đen.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q1 100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn. Khi nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Tối ngày 01/01/2024, tại khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Lý Đức T mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý Heroine và 14 viên nén hình tròn màu hồng là ma tuý “ngựa” (Methamphetamine) với giá 7.000.000 đồng mục đích để bán lại kiếm lời. Sau đó, T mang về nhà chia thành 92 gói ma tuý Heroine và 14 gói ma tuý “ngựa”. Khoảng 11 giờ ngày 09/01/2024, tại trước cổng nhà T ở khu phố B C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T đã bán cho Nguyễn Văn Q1 01 túi chứa 0,1115 gam ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng để Q1 sử dụng, sau đó T lại bán cho Nguyễn Văn T1 01 túi chứa 0,0838 gam ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng. Số ma tuý còn lại, T tàng trữ gồm tổng số 9,0562 gam ma tuý Heroine và 1,3360 gam ma tuý Methamphetamine nhằm mục đích để bán lại kiếm lời. Tổng khối lượng ma tuý T đã bán cho Q1, T1 và tàng trữ mục đích để bán kiếm lời là 9,2515 gam ma tuý Heroine và 1,3360 gam ma tuý Methamphetamine. Do vậy, hành vi của bị cáo Lý Đức T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều
8
mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q1 đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Ngoài hình phạt chính Hội đồng xét xử xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo Lý Đức T một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của T là tiền thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Q1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Q1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[5.2] Đối với 01 mảnh giấy màu trắng có ghi chữ và số: “XSMB ngày 9/1/2024 YT19439205 DR21880372” đây là số sêri của 02 tờ tiền Tuyền mua ma túy của T nên cơ quan điều tra đã lưu giữ trong hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[5.3] Đối với 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 54 túi nilon màu trắng, mỗi túi có kích thước (12x07)cm; 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm; 01 dao lam đã qua sử dụng; 15 mảnh túi nilon màu xanh, kích thước (04x05)cm; 20 mảnh túi nilon màu đỏ, kích thước (04x05)cm là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ hoàn lại theo Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch tiêu hủy;
[5.3] Đối với 01 cân điện tử màu đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Liên quan trong vụ án còn có:
9
[6.1] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T ngày 01/01/2024 tại nhà T và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Quyết ngày 06/01/2024 tại phường Đ, thành phố T. Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính T và Q1 bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
[6.2] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T ngày 01/01/2024 tại khu phố C, phường Đ, thành phố T. Quá trình điều tra, T khai không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa điều tra rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6.3] Liên quan trong vụ án này có người đàn ông đã bán ma túy cho Q1 ngày 06/01/2024 tại phường Đ, thành phố T. Quá trình điều tra, Q1 khai không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa điều tra rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6.4] Liên quan trong vụ án có đối tượng Nguyễn Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,0838 gam ma tuý Heroine đã mua được của T nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại phường T, thành phố T nhưng không có đối tượng nào như T1 khai. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6.5] Đối với anh Đỗ Đức H2 là người đi cùng T1. Anh H2 và T1 chỉ là bạn bè quen biết ngoài xã hội, khi đi cùng T1 không nói cho anh H2 biết và anh H2 cũng không biết việc T1 đi mua ma túy, chỉ đến khi T1 mua ma túy và bị bắt thì anh H2 mới biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh H2 là phù hợp.
[6.6] Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán cho T biết 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm và 01 cân điện tử màu đen vào sáng ngày 01/01/2024. T khai không biết người này là ai, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Khi mua hàng, T không nói cho người này biết việc mua để cân và gói ma tuý. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với người đàn ông này là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Nguyễn Văn Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
2.1 Áp dụng: Điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm.
10
Xử phạt bị cáo Lý Đức T 09 (C) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Lý Đức T 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
2.2 Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 14 ( Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 09/01/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo Lý Đức T và Nguyễn Văn Q1, mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1 Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của T.
3.2 Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 54 túi nilon màu trắng, mỗi túi có kích thước (12x07)cm; 01 ống được quấn bằng giấy màu bạc đường kính 3,5cm, dài 30cm; 01 dao lam đã qua sử dụng; 15 mảnh túi nilon màu xanh, kích thước (04x05)cm; 20 mảnh túi nilon màu đỏ, kích thước (04x05)cm; 01 cân điện tử màu đen; 01 vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định, có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ hoàn lại theo Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
3.3 Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q1 100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Lý Đức T và Nguyễn Văn Q1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Đức T Mua bán trái phép chất ma túy
