|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày 08-7-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Vương Ngọc Anh Đài.
Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn số 11/2024/QĐ-ST ngày 26/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh T, sinh năm 1994, tại Long An; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng trọ số 06, nhà T, đường X, khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; số CCCD: [...]; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1960 và bà Trần Thị L, sinh năm 1967 (đã chết); có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 01/10/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị Cẩm T2, sinh năm 1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: Số A, ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng trọ số 06, nhà T, đường X, khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; số CCCD: [...]; con ông Lê Văn D, sinh năm 1969 và bà Dương Thanh P, sinh năm 1976; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2007; có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 01/10/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Cẩm T2: Luật sư Nguyễn Thị Kim Y – thuộc đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Chi nhánh Công ty L3, số B, khu V, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
3. Huỳnh Thanh S, sinh năm 1996, tại tỉnh Trà Vinh; địa chỉ thường trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng số 01, nhà T, đường X, khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; số CCCD: [...]; con ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1968 và bà Cô Thị C, sinh năm 1972; có 02 anh em, lớn sinh năm 1992, nhỏ là bị cáo; có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 01/10/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thanh S: Luật sư Trầm Phú L2 – thuộc đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Công ty L4 – chi nhánh T5, số A, đường P, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Hồ Chí T3, sinh năm 2003; thường trú: Tổ F, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt;
2. Ông Lê Văn H, sinh năm 2001; thường trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Ngô Duy K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2, Trần Thanh T, Hồ Chí T3 và Lê Văn H là bạn bè với nhau và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine.
Ngô Duy K và Huỳnh Thanh S thuê phòng số 01, nhà T, cạnh đường XC9A thuộc khu phố C, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương ở chung. Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T có quan hệ tình cảm, sống chung với nhau như vợ chồng.
Khoảng 20 giờ ngày 30/9/2023, Hồ Chí T3 và Lê Văn H đến phòng số 01, nhà T uống rượu, bia với Ngô Duy K và Huỳnh Thanh S. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Thanh T và Lê Thị Cẩm T2 đến chơi thì S nhắn tin qua mạng xã hội Z cho T với nội dung: “Cike anh ơi” nhưng không thấy T trả lời nên S nhắn tin qua Z cho T2 với nội dung: “chơi X chị ơi, em với chị đứa 5tr”, tức là mỗi người góp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để mua ma túy sử dụng thì T2 nhắn tin lại: “OK” tức là đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T rủ T2, S, H và T3 cùng đi đến khu vực xã L, huyện C, tỉnh Long An để ăn tiệc sinh nhật của bạn tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) thì cả nhóm đồng ý nên T và T2 thuê xe taxi cho cả nhóm đi. Khi đến nhà của B, T thấy có đánh nhau nên T rủ cả nhóm đến quán K1 thuộc huyện C, tỉnh Long An hát karaoke và gọi điện thoại qua Z rủ bạn tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở huyện C đến chơi. Đến khoảng 00 giờ ngày 01/10/2023, khi cả nhóm đang hát trong quán K1 thì có lực lượng Công an đến kiểm tra quán nên T gọi điện thoại qua Z cho H1 và được chỉ dẫn đến quán karaoke khác (không rõ tên, địa chỉ). Tại đây, nhóm của T gặp H1 đi cùng 06 người bạn của H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) và cùng vào quán karaoke. Khi vào quán, T nói với S đưa số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đưa H1 lấy ma túy. Do S đã nhắn tin rủ T trước đó nên S lấy tiền của mình đưa cho T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). T lấy tiền rồi đưa cho T2 để T2 đưa cho H1 mua ma túy. T2 giữ lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để trả tiền hát karaoke, còn lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) thì T2 đưa cho H1 mua ma túy (loại Ketamine) đem về phòng hát karaoke để cả nhóm cùng nhau sử dụng, nhưng không sử dụng hết. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, do quán nghỉ nên nhóm của T cùng nhóm của H1 ra về, còn số ma túy chưa sử dụng hết thì T gom lại bỏ vào túi nylon miệng kéo dính cất vào túi quần, rồi cùng T2, S, H, T3 lên xe taxi đã thuê trước đó đi về. Khi lên xe, T nói: “gom ma túy về phòng của S sử dụng” thì cả nhóm đồng ý. Trên đường đi về, T lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng của mình quấn thành ống hút để về phòng của S sử dụng ma túy.
Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 01/10/2023, T, T2, S, H và T3 về đến phòng phòng số 01, nhà T thì gặp Ngô Duy K đang ở trong phòng. Cả nhóm đi lên trên gác của phòng trọ, còn K ở dưới phòng. Lúc này, T2 mở nhạc trên máy tính có sẵn trên gác nên K nghi ngờ T2 và cả nhóm sử dụng ma túy, K đi lên gác nói cả nhóm là không được sử dụng ma túy, rồi đi xuống tầng trệt gọi điện thoại báo lực lượng Công an rồi nằm ngủ. Thấy K đi xuống thì T lấy túi ma túy ra, để lên CPU của máy tính và nói T2 xuống tầng trệt lấy đĩa sứ đem lên gác để sử dụng ma túy. Sau đó, T lấy một phần ma túy trong túi nylon bỏ lên đĩa sứ và lấy thẻ ATM của T2 để phía sau ốp điện thoại của T2, gạt ma túy thành hàng cho cả nhóm sử dụng, phần ma túy còn lại trong túi nylon, T để trên CPU máy tính. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi T, T2, S, H, T3 đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B phối hợp Công an phường M đến kiểm tra. Lúc này, T2 làm đổ Ketamine chưa sử dụng hết trên đĩa sứ xuống remote điều khiển máy lạnh, T cất đĩa sứ xuống sát mép nệm ngủ trên gác. Sau đó, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ: Bên trên tủ gỗ sát vách tường bên trái trên gác theo hướng cửa nhìn vào phòng có: 01 (một) thẻ ATM số 97040301742615806 của Ngân hàng S1 tên LE THI CAM TIEN; 01 (một) ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng không còn nguyên vẹn; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1); Trên remote điều khiển máy lạnh có vương vãi chất bột màu trắng. Lực lượng Công an thu gom vào 01 (một) túi nilon miệng kéo dính (ký hiệu M2); Dưới sát mép nệm ngủ trên gác có 01 (một) đĩa sứ tròn màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A223 màu xanh dương gắn sim số 0372173784 của Trần Thanh T; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0377207797 của Huỳnh Thanh S; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số [...] của Lê Thị Cẩm T2; 01 (một) màn hình máy tính hiệu Fujitsu màu trắng; 01 (một) CPU màu trắng không rõ hiệu; 02 (hai) loa hiệu Kisonli màu trắng; 01 (một) bàn phím và 01 (một) chuột có dây, không nhãn hiệu của Ngô Duy K.
Quá trình điều tra, Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của S, T2 phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Riêng Trần Thanh T, ban đầu T khai: T và S hùn tiền với nhau là 790.000 đồng (bảy trăm chín mươi nghìn đồng) mua ma túy, trong đó T hùn 390.000 đồng (ba trăm chín mươi nghìn đồng), tổ chức cho S, T2, H và T3 sử dụng. Sau đó, T khai: T không hùn tiền với S để mua ma túy, ban đầu T nhận tội dùm T2 vì T2 là bạn gái của T. Tại quán karaoke, S đưa tiền cho T2 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), sau đó T2 đưa tiền cho bạn gái của H1 để mua ma túy sử dụng. Sau khi lên xe, S rủ T2 về phòng của S để sử dụng ma túy. T2 là người lấy ma túy còn lại đem về. Trên đường từ huyện C về, T lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng của mình quấn thành ống hút để về phòng của S sử dụng ma túy. Khi về đến phòng của S thì S kêu cả nhóm lên gác. T2 đi xuống gác lấy đĩa sứ và đổ ma túy ra, lấy thẻ ATM của T2 gạt kẻ thành hàng, đưa cho T và cả nhóm sử dụng. Hồ Chí T3 khai: Khi trên xe trên đường từ C về, Trần Thanh T nói với cả nhóm: “mấy đứa có ai chơi nữa không” có nghĩa là sử dụng ma túy nữa không thì tất cả đồng ý. Khi về đến phòng của S, T2 đi xuống dưới gác lấy đĩa sứ đưa cho T. T lấy ma túy đổ ra dĩa và lấy thẻ ATM sau ốp điện thoại của T2 gạt thành hàng cho cả nhóm sử dụng. Lê Văn H khai: Khi về đến phòng của Huỳnh Thanh S, Trần Thanh T rủ H sử dụng ma túy. T2 đi lấy đĩa, T lấy ma túy đổ ra dĩa và lấy thẻ ATM sau ốp điện thoại của T2 gạt thành hàng cho cả nhóm sử dụng.
Theo Bản Kết luận số 556/KL-KTHS(MT) ngày 06/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng/trọng lượng M1=0,3512gam, M2= 0,1212gam. Tổng cộng 0,4724 gam. Mẫu vật sau giám định được niêm phong: M1= 0,2974 gam, M2 = 0,1016 gam.
Ngày 17/10/2023, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Hồ Chí T3 và Lê Văn H, mỗi người 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 Promax màu tím gắn sim số 0377207797 thu giữ của Huỳnh Thanh S là điện thoại di động của Ngô Duy K. Ngày 23/9/2023, điện thoại của S bị hư nên mượn điện thoại di động của K để sử dụng. Sau đó, S gắn sim thuê bao số 0377207797 vào để sử dụng và liên lạc rủ T, T2 sử dụng ma túy. Ngày 27/4/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đã xử lý vật chứng giao trả: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím gắn sim số 0377207797; 01 (một) màn hình máy tính hiệu Fujitsu màu trắng; 01 (một) CPU màu trắng không rõ hiệu; 02 (hai) loa hiệu Kisonli màu trắng; 01 (một) bàn phím và 01 (một) chuột có dây, không nhãn hiệu cho Ngô Duy K.
Tại bản Cáo trạng số 155/CT-VKSBC ngày 10/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với vị cáo Huỳnh Thanh S và bị cáo Lê Thị Cẩm T2.
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh S từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm T2 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với vị cáo Trần Thanh T.
+ Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) Bì thư niêm phong số 556/PC01-M1, số 556/PC09-M2 có chữ ký người chứng kiến Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T2, Huỳnh Thanh S, chữ ký đại úy Phạm Văn T4 (phó trưởng Công an phường), hình dấu đỏ của Công an phường M và dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 (một) đĩa sứ tròn màu trắng; 01 (một) thẻ ATM số 97040301742615806 của Ngân hàng S1 tên LE THI CAM TIEN; 01 (một) sim số [...] và 01 (một) sim số 0372173784. Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A223 màu xanh dương (số IMEI 353220/82/108214/3, máy bị nứt rìa màn hình, không kiểm tra được số Model, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím (không kiểm tra được số Model, số IMEI tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Các bị cáo Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 155/CT-VKSBC ngày 10/6/2024 và Kết luận giám định số 556/KL-KTHS(MT) ngày 06/10/2023.
- Tại phiên tòa, người bào chữa của bị cáo Huỳnh Thanh S – Luật sư Trầm Phú L2 trình bày: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Xét thấy bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc phạm tội của mình; gia đình bị cáo người có công với cách mạng; bị cáo phạm tội lần đầu, trình độ học vấn của bị cáo thấp; gia đình bị cáo rất khó khăn, cha mẹ bị cáo già yếu, bị cáo là lao động chính. Ngoài ra, bị cáo đã ly hôn nên còn phải nuôi con nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và cân nhắc quyết định cho bị cáo S mức án thấp nhất của khung hình phạt, cho bị cáo S hưởng mức án 07 năm tù nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Tại phiên tòa, người bào chữa của bị cáo Lê Thị Cẩm T2 – Luật sư Nguyễn Thị Kim Y trình bày: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Xét thấy bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc phạm tội của mình; gia đình bị cáo rất khó khăn, cha mẹ bị cáo già yếu, bị cáo là lao động chính. Ngoài ra, bị cáo đã ly hôn nên còn phải nuôi con nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và cân nhắc quyết định cho bị cáo T2 mức án thấp nhất của khung hình phạt, cho bị cáo T2 hưởng mức án 07 năm tù nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo S thống nhất và không có ý kiến bổ sung đối với trình bày của người bào chữa và không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa, bị cáo T2 thống nhất và không có ý kiến bổ sung đối với trình bày của người bào chữa và không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa, bị cáo T không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà, các bị cáo Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Sáng ngày 01/10/2023, tại quán K1 (không rõ tên, địa chỉ) thuộc tỉnh Long An, Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T có hành vi hùn tiền mua ma túy loại Ketamine của đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để cùng nhau sử dụng và cho Hồ Chí T3, Lê Văn H sử dụng. Đến 08 giờ ngày 01/10/2023, tại phòng số 01, nhà T, cạnh đường XC9A thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, T lấy số ma túy chưa sử dụng hết ở tỉnh Long An đem về tiếp tục cùng với Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 cùng nhau sử dụng và cho Hồ Chí T3, Lê Văn H sử dụng. Đến khoảng 09 giờ, cùng ngày lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện cả nhóm đang sử dụng ma túy và thu giữ 0,4724 gam ma túy loại Ketamine.
Với hành vi hùn tiền mua ma túy cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy và cho Hồ Chí T3, Lê Văn H sử dụng 02 lần của các bị cáo Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T2 và Huỳnh Thanh S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản Cáo trạng số 155/CT-VKSBC ngày 10/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc mua, tàng trữ, sử dụng trái phép, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo tổ chức sử dụng là Ketamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút họat động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.
Về tình tiết định khung hình phạt: Với hành vi hùn tiền mua ma túy cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy đá và cho Hồ Chí T3, Lê Văn H sử dụng 02 lần của các bị cáo đã vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khung hình phạt nên bị xét xử ở khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, T2 và S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo T2 và S thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo S và bị cáo T2 còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do hoàn cảnh gia đình bị cáo S và bị cáo T2 khó khăn; bị cáo S và bị cáo T2 phải nuôi con nhỏ và bị cáo S có người nhà có công với cách mạng.
Xét tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người có vai trò chính trong việc tổ chức sử dụng ma túy, tìm người mua ma túy và chuẩn bị địa điểm, công cụ cho các bị cáo và Hồ Chí T3, Lê Văn H cùng sử dụng ma túy. Bị cáo S là người khởi xướng, rủ rê mua ma túy về sử dụng, bỏ tiền ra mua ma túy và cho bị cáo T2 mượn tiền mua ma túy, tích cực tham gia sử dụng ma túy. Bị cáo T2 tích cực tham gia, bỏ tiền ra mua ma túy, trực tiếp đưa tiền cho đối tượng tên H1 mua ma túy.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
[4] Về biện pháp tư pháp:
Đối với 02 (hai) Bì thư niêm phong số 556/PC01-M1, số 556/PC09-M2 có chữ ký người chứng kiến Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T2, Huỳnh Thanh S, chữ ký đại úy Phạm Văn T4 (phó trưởng Công an phường), hình dấu đỏ của Công an phường M và dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B: Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành. Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A223 màu xanh dương (số IMEI 353220/82/108214/3, máy bị nứt rìa màn hình, không kiểm tra được số Model, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím (không kiểm tra được số Model, số IMEI tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được): Đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Đối với 01 (một) đĩa sứ tròn màu trắng; 01 (một) thẻ ATM số 97040301742615806 của Ngân hàng S1 tên LE THI CAM TIEN; 01 (một) sim số [...] và 01 (một) sim số 0372173784: Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy.
[5] Đối với đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Lê Thị Cẩm T2, hiện Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Đối với Ngô Duy K: Khi phát hiện các bị cáo S, T, T2, H và T3 sử dụng ma túy trong phòng trọ thì K đã gọi điện thoại báo lực lượng Công an nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T2 và Huỳnh Thanh S phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thanh T.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
2.2 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Thanh S.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh S 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
2.3 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Thị Cẩm T2.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Cẩm T2 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) Bì thư niêm phong số 556/PC01-M1, số 556/PC09-M2 có chữ ký người chứng kiến Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T2, Huỳnh Thanh S, chữ ký đại úy Phạm Văn T4 (phó trưởng Công an phường), hình dấu đỏ của Công an phường M và dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 (một) đĩa sứ tròn màu trắng; 01 (một) thẻ ATM số 97040301742615806 của Ngân hàng S1 tên LE THI CAM TIEN; 01 (một) sim số [...] và 01 (một) sim số 0372173784.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A223 màu xanh dương (số IMEI 353220/82/108214/3, máy bị nứt rìa màn hình, không kiểm tra được số Model, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 14 promax màu tím (không kiểm tra được số Model, số IMEI tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Huỳnh Thanh S, Lê Thị Cẩm T2 và Trần Thanh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T, Lê Thị Cẩm T1 và Huỳnh Thanh S phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
