Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 159/2024/DS-PT

Ngày 08 - 7 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn
Ông Trần Bá Kha

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Tô Toàn Q (Bé N), sinh năm 1974; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1947; địa chỉ: số nhà G, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Tô Thị Ngọc L (Bé B), sinh năm 1978; chỗ ở hiện nay: ấp K, xã B, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
    2. Chị Tô Ánh N1, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    3. Ông Tô Toàn T1, sinh năm 1943; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
    4. Chị Lê Thị Thu T2, sinh năm 1976 (vợ anh Q); địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    5. 5. Bà Nguyễn Hồng V (đã chết).
      • Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Hồng V:
        1. 5.1. Ông Phạm Anh T3, sinh năm 1964; địa chỉ: A, khu đô thị T, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
        2. 5.2. Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1963; địa chỉ: 2 đường T, Khu phố F, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        3. 5.3. Bà Phạm Thị Ngọc D, sinh năm 1966; địa chỉ: D N, Khu phố A, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang(có đơn xin vắng mặt).
    6. 6. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1942; địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
    7. 7. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1949; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
    8. 8. Bà Nguyễn Thị T5 (chết).
      • Người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị T5:
        1. 8.1. Chị Lê Thị N2, sinh năm 1985; địa chỉ: 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
        2. 8.2. Chị Lê Thị D1, sinh năm 1978; địa chỉ: 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
        3. 8.3. Anh Lê Minh T6, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
        4. 8.4. Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
        5. 8.5. Anh Lê Minh P, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
        6. - Ông Lê Minh T7, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
    9. 9. Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1955; địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).
    10. 10. Ông Nguyễn Văn N4 (đã chết).
      • Người thừa kế quyền, nghĩa vụ ông Nguyễn Văn N4:
        1. 10.1. Bà Ngô Mỹ D2, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ E, Khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        2. 10.2. Anh Nguyễn Văn T8, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ E, khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        3. 10.3. Anh Nguyễn Văn B2, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ E, khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        4. 10.4. Chị Nguyễn Thị Mỹ T9, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ E, khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        5. 10.5. Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ E, Khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
        6. 10.6. Anh Nguyễn Quốc T10, sinh năm 1989; Tổ E, Khu phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

- Người kháng cáo: Anh Tô Toàn Q - Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2021; 24/6/2022 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Tô Toàn Q trình bày:

Cha anh tên là Tô Toàn T1 và mẹ là bà Nguyễn Ngọc Á có phần đất có chiều ngang khoảng 12m, chiều dài khoảng 70m, toạ lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Phần đất này từ trước đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên phần đất cha mẹ anh có cất nhà để ở, anh là con trai út trong gia đình nên sống chung với cha mẹ, đến năm 1995 thì đi nghĩa vụ quân sự. Đến năm 1997 thì xuất ngủ trở về, đến năm 1998 cha mẹ cho anh một phần đất chiều ngang 4,2m x chiều dài 36,8m để anh cất nhà ở, đến năm 2002 thì cha mẹ anh cho anh luôn, việc cho đất có làm giấy tờ nhưng đã bị thất lạc. Đến ngày 15/01/2020 (âm lịch) thì mẹ anh có ý định lấy lại phần đất này, anh không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

Nay anh khởi kiện yêu cầu mẹ anh trả cho anh phần đất có diện tích là 154,7m², có tứ cận: Cạnh giáp lộ bê tông chiều ngang 4,2m; cạnh giáp Nguyễn Ngọc Á 4,2m; cạnh giáp Nguyễn Thị Ngọc Á1 27,93m; cạnh giáp Nguyễn Ngọc Á1 36,81m. Phần đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Á1 trình bày:

Mẹ bà là Ngô Thị N5 có một phần đất, tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, sau đó mẹ bà cho lại bà và bà đã sử dụng từ năm 1968. Đến năm 1997 bà có cho con gái là Tô Ánh N1 mượn một phần đất và nhà để ở. Đến năm 2002, Tô Toàn Q không có chỗ ở nên chị N1 cho em là Tô Toàn Q mượn căn nhà phía sau để tạm ở nhằm ổn định cuộc sống gia đình. Sau đó, chị N1 đi nơi khác ở trả lại đất cho bà, bà thấy Q ở nên tiếp tục cho Q mượn ở. Đến năm 2020, bà mời cán bộ địa chính đến đo đạc để lập thủ tục để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp với anh Tô Toàn Q. Nay anh Tô Toàn Q khởi kiện yêu cầu bà trả lại đất, bà không thống nhất, đất này là đất của bà, chỉ cho anh Tô Toàn Q mượn ở nhờ.

Mẹ bà là Ngô Thị N5 đã chết, bà N5 có tất cả 08 người con gồm: Nguyễn Văn L1 (chết) không vợ con; Nguyễn Hồng V (chết), bà V có chồng nhưng chết, có con là Phạm Anh T3, Phạm Thị Kim C, Phạm Thị Ngọc Đ1; bà Nguyễn Thị B1; bà Nguyễn Thị Ngọc Á1; ông Nguyễn Văn T4; bà Nguyễn Thị T5 (chết), bà T5 có chồng nhưng đã chết, có con là Lê Thị N6, Lê Thị D1, Lê Minh T6, Lê Minh Đ, Lê Minh P, Lê Minh T7; ông Nguyễn Văn N3; ông Nguyễn Văn N4 (chết), có vợ là bà Ngô Mỹ D2, có còn là Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn B2, Nguyễn Thị Mỹ T9, Nguyễn Thị Mỹ H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tô Thị Ngọc L trình bày:

Trước đây vào năm nào chị không nhớ, chị có ở cùng với mẹ là bà Nguyễn Ngọc Á1 và có mở quán ăn tại nhà. Sau này, nghỉ bán chị có để bàn ghế, dù....ở căn nhà phía sau (hay gọi là nhà kho). Nay đồ để ở nhà kho chị đã lấy hết, đất và nhà kho là của mẹ chị, mẹ chị toàn quyền quyết định, chị không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tô Ánh N1 trình bày:

Vào khoảng năm 1997 chị có mượn của mẹ chị là bà Nguyễn Ngọc Á1 một phần đất trên đất có sẵn 01 căn nhà gỗ, mái lộp lá. Phần đất có chiều ngang khoảng hơn 04 mét, chiều dài khoảng 20m, đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Chị ở đến năm 2002 thì anh Tô Toàn Q (em chị) từ quê vợ trở về không có chỗ ở nên chị cho anh Tô Toàn Q mượn căn nhà phía sau (nhà bếp) để tạm ở nhằm ổn định cuộc sống gia đình, còn chị thì ở căn nhà phía trước. Sau đó, đến khoảng năm 2005 thì gia đình chị dọn đi nơi khác ở, chị giao trả lại căn nhà phía trước cho mẹ chị, còn căn nhà phía sau thì anh Tô Toàn Q tiếp tục ở. Đất này là của cha mẹ chị, cha mẹ chị toàn quyền quyết định, chị không ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Toàn T1 trình bày: Vào khoảng năm 1997 ông có cho con gái Tô Ánh N1 mượn một phần đất có chiều ngang 4,2m x dài 14,2m để cất nhà ở. Đến năm 2002 thì anh Tổ Toàn Q từ quê vợ trở về không có chỗ ở nên N1 mới cho mượn căn nhà phía sau (nhà bếp) để ở. Sau đó, gia đình có điều kiện hơn N1 trả lại căn nhà phía trước, còn căn nhà phía sau anh Tô Toàn Q tiếp tục ở.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thu T2 trình bày:

Phần đất tranh chấp là của cha mẹ chồng cho chồng chị là anh Tô Toàn Q, do đó mọi việc do chồng chị quyết định chị không có ý kiến hay yêu cầu gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1, ông Nguyễn Văn T4, ông Nguyễn Văn N3 trình bày:

Phần đất tranh chấp là đất của mẹ ông bà cho bà Á1, các ông bà không tranh chấp.

* Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Hồng V, bà Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Văn N4 gồm ông Phạm Anh T3, bà Phạm Thị Kim C, bà Phạm Thị Ngọc D, chị Lê Thị N6, chị Lê Thị D1, anh Lê Minh T6, anh Lê Minh Đ, anh Lê Minh P, anh Lê Minh T7 trình bày:

Đối với phần đất tranh chấp các ông, bà, anh, chị không có yêu cầu gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

  • - Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Tô Toàn Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Nguyễn Ngọc Á1.
  • - Buộc anh Tô Toàn Q và bà Lê Thị Thu T2 di dời toàn bộ tài sản và căn nhà có diện tích (4,2 x 10,3m) = 43,26m², nhà kết cấu cột gỗ, nền xi măng, vách tôn, mái lợp tôn sóng tròn trên phần đất tranh chấp để giao trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Á1 phần đất có diện tích là 154,7m², đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, phần đất có tứ cạnh:
    • Cạnh 1-6 giáp đất Nguyễn Ngọc Á1 4,20m;
    • Cạnh 1-3 giáp đất Nguyễn Ngọc Á1 36,81m;
    • Cạnh 7-2 giáp lộ 4,2m;
    • Cạnh 7-6 giáp Nguyễn Ngọc Á1 38,63m.
    • (Cụ thể vị trí các tứ cận phần đất theo Trích đo địa chính số 60-2022 ngày 19/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
  • - Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ công sức cải tạo, di dời của bà Nguyễn Ngọc Á1 cho anh Tô Toàn Q số tiền 50.000.000 đồng.

Sau khi xét xử sơ thẩm.

Ngày 06 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn anh Tô Toàn Q có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T11. Buộc bà Nguyễn Ngọc Á1 trả lại cho anh phần đất có diện tích 154,7m², tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh thì yêu cầu bà Á1 hỗ trợ cho anh số tiền là 300.000.000 đồng. Anh không đồng ý việc bà bà Á1 chỉ hỗ trợ cho anh 50.000.000 đồng cho gia đình ánh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Phía nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Phía bị đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn anh Tô Toàn Q; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Tô Toàn Q về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Xét về nội dung tranh chấp:

    Phần đất tranh chấp giữa anh Tô Toàn Q và bà Nguyễn Ngọc Á1 có diện tích theo đo đạc thực tế là 154,7m² đất, phần đất có tứ cạnh:

    • Cạnh 1-6 giáp đất Nguyễn Ngọc Á1 4,20m;
    • Cạnh 1-3 giáp đất Nguyễn Ngọc Á1 36,81m;
    • Cạnh 7-2 giáp lộ 4,2m;
    • Cạnh 7-6 giáp Nguyễn Ngọc Á1 38,63m.

    Phần đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

    Trên đất có một phần căn nhà của bà Nguyễn Ngọc Á1, có diện tích 33,6m², nhà có kết cấu cột thép, tường xây gạch, vách tôn, nền gạch, mái tôn sóng vuông, trần thạch cao; có căn nhà của anh Tô Toàn Q, có diện tích 43,26m², nhà kết cấu cột gỗ, nền xi măng, vách tôn, mái tôn sóng tròn; có căn nhà của bà Tô Ánh N1, có diện tích 38,22m², nhà kết cấu cột gỗ, nền xi măng, vách tôn, mái tôn sóng tròn. Ngoài ra, trên đất còn có 03 cây dừa.

    Theo chứng thư định giá ngày 21/4/2022 phần đất và nhà đất tranh chấp có giá trị 438.810.000 đồng (trong đó gía trị đất là 355.810.000 đồng; công trình xây dựng 79.727.000 đồng; cây trồng trên đất 3.273.000 đồng).

    Các bên thống nhất phần đất tranh chấp là của anh Tô Toàn T1 và bà Nguyễn Ngọc Á1 đã sử dụng từ năm 1968 cho đến nay. Anh Q cho rằng vào khoảng năm 1998 thì ông T1, bà Á1 cho anh mượn để cất nhà ở, đến năm 2002 thì cho luôn, việc cho đất có làm giấy tay nhưng đã bị thất lạc, anh sử dụng đến năm 2020 thì bà Á1 cất lại nhà phía trước nên phát sinh tranh chấp. Bà Á1 cho rằng bà chỉ cho anh Q ở nhờ, không cho luôn. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn anh Q cho rằng anh được cha mẹ là ông T1, bà Á1 cho phần đất tranh chấp. Nhưng anh Q không có cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh là việc cha mẹ anh cho anh phần đất này. Anh có cung cấp những người hiểu biết gồm bà Nguyễn Thu S, ông Bùi Văn T12, ông Tô Toàn N7, bà Nguyễn Thị B3, bà Nguyễn Thị T13, ông Huỳnh Tân N8. Tuy nhiên, qua làm việc những người hiểu biết như bà Nguyễn Thu S, ông Bùi Văn T12, bà Nguyễn Thị B3, bà Nguyễn Thị T13, ông Huỳnh Tân N8 đều xác định có việc anh Q cất nhà và đã ở trên phần đất tranh chấp thời gian khoảng hơn hai mươi năm, đến năm 2020 thì phát sinh tranh chấp với bà Á1 và anh Q không còn ở trên phần đất này nữa, bà Á1 có cho luôn anh Q phần đất này hay không thì không rõ. Ngoài ra, tại Công văn phúc đáp số 167/TNMT-ĐĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện V xác định: “Phần đất tranh chấp theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 60-2022 ngày 20/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Bà Nguyễn Ngọc Á1 đã đứng tên trên sơ đồ 14, phần đất tranh chấp thuộc thửa 184, tờ bản đồ 02, loại đất thổ vườn (TV). Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Á1 đã ở trên phần đất tranh chấp ổn định từ khoảng năm 1968 đến nay, bà Á1 đã đăng ký kê khai và được đứng tên trên sơ đồ 14, việc nguyên đơn anh Q khởi kiện bà Á1 nhưng anh không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của anh. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q là có co sở.

    Xét về công sức cải tạo, di dời đất do nguyên đơn cho rằng đất và tài sản có trên đất nếu thuộc về bà Á1 thì anh không yêu cầu bồi thường gì nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Á1 tự nguyện hỗ trợ cho nguyên đơn anh Q về công sức cải tạo, di dời số tiền là 50.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này của bị đơn là phù hợp.

  3. [3] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn anh Tô Toàn Q. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Q không có cung cấp thêm chứng cứ gì để chứng minh là việc kháng cáo của anh là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sỏ để chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Q như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.

    Ngoài ra, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự đều xác định căn nhà của anh Q đã cũ, không còn sử dụng được và gia đình anh Q không còn ở trên căn nhà này và đã đi nơi khác sinh sống, nên cấp sơ thẩm không xém xét việc cho gia đình anh Q lưu cư trên căn nhà tranh chấp là có căn cứ.

    Từ những nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Tô Toàn Q; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

  4. [4] Về chi phí tố tụng:
    1. [4.1] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền là 1.116.500 đồng anh Tô Toàn Q chịu và đã nộp xong.
    2. [4.2] Về chi phí định giá tài sản: số tiền là 2.700.000 đồng anh Tô Toàn Q chịu và đã nộp xong.
  5. [5] Về án phí:
    1. [5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tô Toàn Q phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận số tiền là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003554 ngày 07/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
    2. [5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của anh Tô Toàn Q không được chấp nhận, nên anh Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002181 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Tô Toàn Q.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 166 Luật Đất đai 2013; Điều 20, Điều 21 và Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Tô Toàn Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Nguyễn Ngọc Á1.

    Buộc anh Tô Toàn Q và bà Lê Thị Thu T2 di dời toàn bộ tài sản và căn nhà có diện tích (4,2 x 10,3m) = 43,26m², nhà kết cấu cột gỗ, nền xi măng, vách tôn, mái lợp tôn sóng tròn trên phần đất tranh chấp để giao trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Á1 phần đất có diện tích là 154,7m², đất tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, phần đất có các tứ cạnh như sau:

    • - Cạnh 1-2 giáp đất bà Nguyễn Ngọc Á1 = 36,81m;
    • - Cạnh 2-3-7 giáp lộ liên khu phố = 4,2m (3,22m + 0,98m);
    • - Canh 7-5-6 giáp đất bà Nguyễn Ngọc Á1 = 38,63m (27,93m + 10,70m);
    • - Cạnh 1- 6 giáp đất bà Nguyễn Ngọc Á1 = 4,20m;
    • (Cụ thể vị trí các tứ cận phần đất tranh chấp kèm theo Tờ trích đo địa chính số 60-2022 ngày 19/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang).
  2. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn bà Nguyễn Ngọc Á1 hỗ trợ công sức cải tạo, di dời cho anh Tô Toàn Q số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

    Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về chi phí tố tụng:
    1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền là 1.116.500 đồng theo hóa đơn gí trị gia tăng số 0000591 ngày 21/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang anh Tô Toàn Q chịu và anh Q đã nộp xong.
    2. Về chi phí định giá tài sản: Số tiền là 2.700.000 đồng theo hóa đơn số 0000033 ngày 22/4/2022 của Công ty TNHH MTV B4 anh Tô Toàn Q chịu và anh Q đã nộp xong.
  4. Về án phí:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tô Toàn Q phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003554 ngày 07/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
    2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Tô Toàn Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002181 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Vĩnh Thuận;
  • - THA dân sự huyện Vĩnh Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 159/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Q tranh chấp quyền sử dụng đất với bà A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger