TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 159/2023/HS-ST Ngày: 07 - 11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH,TỈNH ĐỒNG NAI
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Hồng Năm
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Lương Thị Bảo Thùy
- 2/ Ông Nguyễn Trọng Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký TAND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện VKS nhân dân thành phố L, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 07 -11-2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXXST-HS ngày 25/10/2023 đối với các bị cáo:
Trần Quý C, sinh năm 1985 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: E, ấp M, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T, sinh năm 1942 và con bà Huỳnh Thị Ghét N, sinh năm 1952; vợ Nguyễn Thị Kiều N1, sinh năm 1985 (không đăng ký kết hôn); Có 01 con sinh năm 2009; tiền sự : không; tiền án:
Ngày 22/11/2010 bị Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh - Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người” theo bản án số 702/2010/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2021,
Bị cáo Trần Quý C1 bị tạm giữ từ ngày 07/4/2023 đến ngày 04/8/2023 tiếp tục tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Quyết Thành C2, Sinh năm: 1985; tại: Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: số nhà C, tổ A, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quyết C3 (Đã chết); con bà Hồ Thị Khánh X, sinh năm 1958; vợ là Nguyễn Thị Tỷ N2, sinh năm 1987; Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 bị tạm giữ từ ngày 07/4/2023 đến ngày 04/8/2023 tiếp tục tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần K. Địa chỉ trụ sở: phòng 206, tầng M, Tòa nhà N, số B N, phường T, Quận T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hà Văn Q, sinh năm 1993. Hộ khẩu thường trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ liên lạc: số C N, phường A, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền ngày 27/9/2023) ( Có mặt ).
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Tỷ N2, sinh năm 1987. Địa chỉ: số nhà C, tổ A, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai ( Vắng mặt ).
- Bà Tô Thị S, sinh năm 1967. Địa chỉ: tổ D, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai ( Vắng mặt ).
- Ông Nguyễn Ngọc S1, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ D, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai ( Vắng mặt ).
- Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1998. Địa chỉ: khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai ( Vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 07/04/2023, Trần Quý C1 đến khu vực quận H, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông tên S1, khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 500.000đ được 01 bịch nylon bên trong có chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, C1 cất giấu vào trong người rồi điều khiển xe Honda nhãn hiệu Vision màu xanh, mang biển số 50Y1- 866.99 về thăm bố, mẹ vợ tại khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Khi C1 đến thành phố L thì vào nhà của Nguyễn Quyết Thành C2, tại số nhà C, tổ A, khu phố C, phường S, thành phố L để chơi. Khoảng 12 giờ 30, C2 hỏi C1 có mang ma túy về không cho C2 một ít để sử dụng. Nghe C2 hỏi như vậy thì C1 lấy bịch ma túy đá ra cho một ít vào 01 nỏ thủy tinh của C2, rồi cả hai cùng nhau sử dụng ở khu vực nhà bếp. Lúc này Nguyễn Thị Tỷ N2, sinh năm 1987, là vợ của C2 đi ngang qua nên C2 rủ N2 cùng sử dụng ma túy, chị N2 đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi C2, C1 và N2 đang sử dụng ma túy thì Công an phường S vào kiểm tra bắt quả tang. Thấy vậy, C1 chạy vào nhà vệ sinh vứt 01 bịch ma túy đá vào bồn cầu nhưng chưa kịp tiêu hủy thì bị phát hiện thu giữ, Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 738/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 3,2737 gam, loại: Methamphetamin.
Quá trình điều tra Trần Quý C1 và Nguyễn Quyết Thành C2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Riêng Trần Quý C1, khi Công an kiểm tra đã có hành vi vứt bỏ ma túy vào bồn cầu nhằm tiêu hủy chứng cứ là có hành vi xảo quyệt.
Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý: 01 bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đá, toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 738/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ cùng 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, 01 quẹt gas và 01 xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 thu giữ của Trần Quý C1, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 20/9/2023 Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh bổ sung biên bản ghi lời khai của Công ty Cổ phần K.
Tại bản cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 22/08/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Trần Quý C1 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h, khoản 2, Điểu 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quý C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h, khoản 2, Điểu 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Về hình phạt:
+ Đối với bị cáo Trần Quý C1 :
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Quý C1 từ 02 ( Hai) năm đến 02 ( Hai) năm 06 ( S2) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm b, h, khoản 2, Điểu 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trần Quý C1 từ 09 ( Chín) năm đến 10 ( M) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt cho bị cáo C1. Buộc bị cáo C1 phải chấp hành hình phạt tù từ 11 (Mười một) năm tù đến 12 ( Mười hai) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/04/2023.
+ Đối với bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2:
Đề nghị căn cứ điểm b khoản 2 Điểu 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 từ 07 (Bảy) năm đến 08 (T1 ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/04/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đá, toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 738/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đà và cùng 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và 01 quẹt gas.
- Đối với 01 xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 thu giữ của Trần Quý C1 đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với yêu cầu nhận lại chiếc xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 của Công ty K, thì yêu cầu này sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn Q trình bày: Công ty Cổ phần K đã mua lại khoản nợ của Ngân hàng TNHH Một thành Viên C4 trong đó có khoản nợ của ông Trần Quý C1. Chiếc xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 của Trần Quý C1 đã thế chấp cho Công ty để vay tiền và hiện Công ty đang giữ giấy chứng nhận bản chính chiếc xe do C1 đứng tên. Sau đó Công ty cho C1 mượn lại để sử dụng và bị bắt. Hiện nay Trần Quý C1 còn nợ Công ty K. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết luôn trong cùng vụ án cho Công ty K nhận lại chiếc xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 vì là tài sản thế chấp bên Công ty. Trường hợp không hoàn trả được thì buộc bị cáo phải hoàn trả cho Công ty K số tiền nợ vay tính đến ngày 07/11/2023 là 31.224.120đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 07/04/2023, Công an phường S bắt quả tang tại nhà số C, tổ A, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Quý C1 và bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho bà Nguyễn Thị Tỷ N2 sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo Trần Quý C1 cất giấu 3,2737gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Trong vụ án này bị cáo Trần Quý C1 đã có hành vi cung cấp chất ma túy và Nguyễn Quyết Thành C2 chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời C2 là người rủ Nguyễn Thị Tỷ N2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này C1 và C2 đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho N2 nên hành vi của C1 và C2 đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quý C1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h, khoản 2, Điểu 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy việc truy tố, xét xử bị cáo Trần Quý C1 và bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 là có cơ sở, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng mà còn là tác nhân gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, khả năng lao động của người sử dụng. Bị cáo C1, C2 là người đã trưởng thành, các bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là pháp luật nghiêm cấm, nhận thức được những tác hại của ma túy. Song do các bị cáo xem thường pháp luật. Bị cáo C1 đã đi mua ma túy về tàng trữ để sử dụng dần, đồng thời bị cáo còn tổ chức cho C2 và N2 sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Chung là người cho mượn điạ điểm, chuẩn bị dụng cụ là nỏ và tổ chức cho C1 và N2 cùng sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy như vậy các bị cáo C1 và C2 đã tổ chức cho 2 người sử dụng ma túy là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo Trần Quý C1 đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng chưa được xóa án tích lại phạm tội rất nghiêm trọng nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
- Đối với bị cáo Chung không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Chung có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo C1 do có hành vi vứt ma túy xuống bồn vệ sinh khi bị công an bắt giữ nên phải áp dụng thêm tình tiết là “có hành động xảo quyệt theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đá, niêm phong số 738/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ là vật cấm lưu hành và cùng 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, 01 quẹt gas không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 thu giữ của Trần Quý C1. Xe này là xe của bị cáo C1 nhưng bị cáo đã ký gửi giấy chứng nhận đăng ký xe cho Công ty cổ phần K để vay tiền. Chiếc xe Honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699 là phương tiện phạm tội nên phải tịch thu sung công quỹ nhà nước. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ).
Xét yêu cầu của Công ty cổ phần K yêu cầu nhận lại chiếc xe Honda hiệu Visson biển số 50Y1- 86699 hoặc buộc bị cáo C1 phải thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng ký gửi đã ký kết với số tiền là 31.224.120đ tính đến ngày 07/11/2023 nhận thấy,việc bị cáo C1 lấy xe đi mua ma túy là hoàn toàn do bị cáo chủ động thực hiện bị cáo là chủ sở hữu chiếc xe nên bị cáo phải chịu trách nhiệm. Bị cáo C1 thế chấp chiếc xe cho Công ty cổ phần K để vay tiền thì đây là hợp đồng dân sự. Công ty yêu cầu giải quyết luôn trong cùng vụ án là không phù hợp nên không chấp nhận. Tách và giành quyền khởi kiện cho Công ty Cổ phần K yêu cầu bị cáo C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng 1 vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
- Đối với hành vi sử dụng ma túy của bà Nguyễn Thị Tỷ N2 Cơ quan công an thành phố L đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo Trần Quý C1, Nguyễn Quyết Thành C2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp 1 phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận 1 phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm p khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Quý C1.
Căn cứ điểm b, h, khoản 2, Điểu 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm p khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Quý C1.
Căn cứ điểm b khoản 2, Đ, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 .
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quý C1 phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 và phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h, khoản 2, Điểu 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quý C1 02( Hai) năm 06( S2 ) tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quý C1 08 (T1) năm tù về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt cho bị cáo C1. Buộc bị cáo C1 phải chấp hành hình phạt tù là 10 (Mười) năm 06( Sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quyết Thành C2 07( B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2023.
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bịch niêm phong số 738/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K1 Công an. 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và 01 hộp quẹt gas.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe honda hiệu Vision màu xanh mang biển số 50Y1- 86699.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ).
- - Tách và giành quyền khởi kiện cho Công ty Cổ phần K đối với Trần Quý C1 về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Các bị cáo Trần Quý C1, Nguyễn Quyết Thành C2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Hồng Năm |
Bản án số 159/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 159/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 07/04/2023, Công an phường Suối Tre bắt quả tang tại nhà số 34, tổ 1, khu phố Cấp Rang, phường Suối Tre, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Quý Chi và bị cáo Nguyễn Quyết Thành Chung đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho bà Nguyễn Thị Tỷ Nhi sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo Trần Quý Chi cất giấu 3,2737gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Trong vụ án này bị cáo Trần Quý Chi đã có hành vi cung cấp chất ma túy và Nguyễn Quyết Thành Chung chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời Chung là người rủ Nguyễn Thị Tỷ Nhi cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này Chi và Chung đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nhi nên hành vi của Chi và Chung đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
