Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày 02 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn

Bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; Điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST- HS ngày 20/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Xuân T, sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Số nhà E, ngách A, ngõ B, đường B, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 5/12. Giới tính: Nam. Bố: Ngô Văn T1, sinh năm 1973. Mẹ: Phạm Thị T2, sinh năm 1979. Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 01/4/2019 bị Công an phường Đ, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

2. Trần Văn H, sinh năm 2005; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường M, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 6/12. Giới tính: Nam. Bố: Trần Văn T3, sinh năm 1983 (đã chết). Mẹ: Đoàn Thị Q, sinh năm 1989. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

* Bị hại:

- Anh Giáp Văn H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)

- Chị Đoàn Thị Bích H2, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của anh H1 là chị Đoàn Thị Bích H2 (vắng mặt)

Địa chỉ: số nhà A, đường B, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Dương Thị H3, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà G, đường B, tổ dân phố H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Vũ Minh L, sinh năm 2024 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà B, đường Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn H, sinh năm 2005 và Ngô Xuân T, sinh năm 2004 đều trú tại tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang là bạn cùng chơi với nhau. Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 08/5/2024, H và T đi bộ ra khu vực hồ điều hòa gần Ủy ban nhân dân phường Đ chơi. Khi đi đến khu vực gần Trường mầm non Đ thì H rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền để chơi điện tử thì T đồng ý. Hai người cùng đi vào đường B thuộc tổ dân phố M, phường Đ mục đích xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi H và T đi đến nhà chị Đoàn Thị Bích H2, sinh năm 1989 ở số nhà A, đường B, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B thì thấy tường rào thấp có thể trèo vào được nên rủ nhau đột nhập vào nhà chị H2 trộm cắp tài sản. H và T trèo qua tường rào vào nhà chị H2. Thấy T đi tạo ra tiếng động sợ bị phát hiện nên H bảo T đứng ở vườn đợi để H vào sân sau trộm cắp tài sản. T đứng đợi H một lúc rồi trèo qua tường rào ra ngoài, đi đến đầu dốc lên đường Bảo N đợi H. H vào sân phía sau nhà chị H2 thấy có 01 con mèo đực màu nâu đen, khối lượng 4,4 kg, giống mèo N1, có tên gọi “Cinamon” đang nhốt trong chuồng nên nảy sinh ý định trộm cắp. H lấy 01 bao tải dứa màu xanh ở sân rồi đi đến chỗ chuồng nhốt mèo, dùng tay rút thanh cài chốt cửa mở cửa chuồng và dùng hai tay bắt con mèo cho vào bao. H cầm bao đựng con mèo trèo qua tường rào ra ngoài đi đến chỗ T đứng đợi, nói cho T đã trộm cắp được 01 con mèo rồi đưa cho T cầm. T cầm bao đựng con mèo, thắt nút đầu bao lại rồi cùng H mang đến khu vực phía sau Trường mầm non Đ cất giấu ở bụi cây. Sau đó, H và T đi đến quán D ở đường T, phường T, thành phố B chơi điện tử.

Đến khoảng 06 giờ ngày 09/5/2024, H nhắn tin M cho bạn là Vũ Minh L, sinh năm 2004 trú tại số nhà B, đường Đ, phường L, thành phố B nhờ đi đến quán điện tử chở H đi có việc. Khoảng 08 giờ cùng ngày, L đi xe máy điện đến quán điện tử chở H và T đến gần khu vực phía sau Trường mầm non Đ thì H bảo L dừng lại. T xuống xe đi đến chỗ cất giấu mèo, lấy bao đựng mèo mang ra. H bảo L chở H và T đến quán ăn B1 ở tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B. Tại đây, H và T đặt vấn đề bán con mèo cho chị Dương Thị H3, sinh năm 1972 là chủ quán. Chị H3 xem và đồng ý mua con mèo với giá 550.000 đồng. Chị H3 đưa cho T 550.000 đồng. Sau đó, L chở H và T đến quán ở đường Đ, phường L, thành phố B chơi điện tử. H và T đã chơi điện tử và chi tiêu cá nhân hết số tiền 550.000 đồng.

Sau khi phát hiện bị trộm cắp con mèo, chị Đoàn Thị Bích H2 đã trình báo. Ngày 10/5/2024, Công an phường Đ triệu tập Trần Văn H và Ngô Xuân T đến làm việc thì H và T đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp như nêu trên. Cùng ngày, chị Dương Thị H3 giao nộp 01 con mèo đực, màu nâu đen, khối lượng 4,4 kg, giống mèo N1, có tên gọi “Cinamon”.

Kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

01 con mèo đực, còn sống, có lông màu nâu đen, giống mèo N1, có tên gọi C, cân nặng 4,4 kg, có giá trị tại thời điểm ngày 08/5/2024 là 3.000.000 đồng

Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 01 file video trích xuất tại camera của gia đình chị Đoàn Thị Bích H2 ghi lại diễn biến vụ việc.

Kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “5467658516208.mp4", dung lượng 8.98MB, thời lượng 05 phút 07 giây lưu trong 01 đĩa DVD-R gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho H xem 01 file video nêu trên. H xác định có hình ảnh H đi vào sân nhà chị H2 rồi trộm cắp mèo.

Cơ quan điều tra cho chị Đoàn Thị Bích H2 và anh Giáp Văn H1, sinh năm 1983 (là chồng chị H2) nhận dạng ảnh con mèo đã thu giữ. Kết quả, chị H2 và anh H1 đều xác định là con mèo của gia đình chị H2 bị trộm cắp ngày 08/5/2024.

Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo xác định hiện trường. H và T đã xác định vị trí trèo vào nhà chị H2. H xác định vị trí chuồng nhốt con mèo, vị trí để bao tải. H và T xác định vị trí giấu mèo sau khi trộm cắp như đã khai.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đoàn Thị Bích H2 con mèo đã thu giữ. Chị H2 và chị Dương Thị H3 không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Đối với Vũ Minh L chở H và T mang con mèo đi bán, chị Dương Thị H3 mua con mèo nhưng đều không biết là tài sản do H và T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo Trần Văn H và Ngô Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

* Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người liên quan, sự vắng mặt của bị hại, người liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 08/5/2024, Trần Văn HNgô Xuân T rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H trèo tường vào sân nhà chị Đoàn Thị Bích H2 ở số nhà A, đường B, tổ dân phố M, phường Đ, thành phố B trộm cắp 01 con mèo đực, cân nặng 4,4 kg, giống mèo N1 trị giá 3.000.000 đồng rồi mang đưa cho T đi cất giấu. Ngày hôm sau, HT cùng nhau đi bán con mèo cho chị Dương Thị H3 là chủ quán ăn B1 ở tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B được 550.000 đồng đã cùng nhau chi tiêu hết. Cơ quan điều tra đã thu giữ con mèo và trả lại cho người bị hại.

Như vậy có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trần Văn HNgô Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, các bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án, vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5]. Đánh giá về nhân thân và mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Ngô Xuân T là người có nhân thân xấu, ngày 01/4/2019 bị Công an phường Đ, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Trần Văn H là người có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không nhận thức được việc làm của mình đã phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ các bị cáo là người coi thường pháp luật. Trong vụ án này bị cáo H là người chủ động khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng trước khi phạm tội các bị cáo không có sự cấu kết bàn bạc, phân công nhiệm vụ của từng người chặt chẽ đây chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì vậy khi lượng hình cần có một mức án là hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo giục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[6]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự

[7]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đầu thú trước Cơ quan điều tra đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Về phần dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là chị Đoàn Thị Bích H2 con mèo đã thu giữ. Chị H2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Dương Thị H3 không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về phần dân sự trong vụ án.

[9]. Đối với Vũ Minh L đã chở HT mang con mèo đi bán, chị Dương Thị H3 là người mua con mèo nhưng đều không biết là tài sản do HT trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[10]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[11]. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T 07 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

4. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

5. Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND Tỉnh Bắc Giang;

- VKSND thành phố Bắc Giang;

- Công an thành phố Bắc Giang;

- Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;

- UBND phường Đa Mai, Bắc Giang;

- Bị cáo; bị hại, người liên quan;

- Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger