Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 159/2025/KDTM-PT  
Ngày: 25/6/2025  
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”  

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn
  Bà Trần Thị Thanh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phương - Kiểm sát viên

Ngày 19 và ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 110/2025/TLPT-KDTM ngày 9/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 97/2024/KDTM-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HĐ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 450/2025/QĐ-PT ngày 28/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 500/2025/QĐ-PT ngày 12/6/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 527/2025/QĐPT-KDTM ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TМСР С.

Trụ sở: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thế S - Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C Chi nhánh T (theo văn bản uỷ quyền số: 179/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT1 ngày 14/02/2023 ). Có mặt.

Bị đơn: Công ty cổ phần T1.

Địa chỉ: Số A, liền kề A, KĐT X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Duy H - Chủ tịch hội đồng quản trị;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn H1 (Theo Giấy ủy quyền ngày 4/6/2025); Ông H1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thế S trình bày:

Ngày 01/07/2021 Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh T (viết tắt là Ngân hàng) và Công ty cổ phần T1 (viết tắt là Công ty T1) có ký Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số: 0107/2021- HĐCVTL/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG); các văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay ngày 01/7/2021 và ngày 04/01/2022. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng đồng ý cho Công ty T1 vay các khoản tiền bằng VNĐ có tồng giá trị không vượt quá 33.000.000.000 đồng; Mục đích vay để: Thanh toán các chi phí đầu tư hợp pháp của dự án đầu tư bổ sung 02 sà lan tự nâng (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD; Thời hạn cho vay là 60 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày Bên cho vay giải ngân khoản nợ; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất đối với dư nợ gốc quá hạn, lãi suất chậm trả lãi được quy định tại Điều 2 của Hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân khoản vay trên cho Công ty T1 theo giấy nhận nợ số 01 ngày 01/7/2021 và giấy nhận nợ số 02 ngày 24/01/2022 với số tiền là 33.000.000.000 đồng (ba mươi ba tỷ đồng).

Để đảm bảo cho khoản vay trên thì ngày 01/07/2021, Ngân hàng và Công ty T1 có ký Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số: 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG); Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số: 21.01/2022/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 21/01/2022. Theo nội dung Hợp đồng thế chấp thì Công ty T1 thế chấp cho Ngân hàng các tài sản thế chấp như sau:

  • Sà lan tự nâng số 01 (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020; phụ lục số 01 ngày 05/02/2021 và phụ lục hợp đồng số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ.
  • Sà lan tự nâng số 02 (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020; phụ lục số 01 ngày 05/02/2021 và phụ lục hợp đồng số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ.

Các tài sản thế chấp đã được chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tính đến hết ngày 30/4/2024 thì Công ty T1 đã thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền là: 14.877.907.023 đồng (Bằng chữ: Mười bốn tỷ, tám trăm bảy mươi bảy triệu, chín trăm linh bảy nghìn, không trăm hai mươi ba đồng) bao gồm:

  • + Số tiền gốc đã trả: 10.719.811.325 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ, bảy trăm mười chín triệu, tám trăm mười một nghìn, ba trăm hai mươi lăm đồng);
  • + Số tiền lãi đã trả: 4.126.868.314 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ, một trăm hai mươi sáu triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, ba trăm mười bốn đồng);
  • + Số tiền lãi phạt đã trả: 31.227.384 đồng (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng).

Và Công ty Đ1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Nay Ngân hàng xác định Công ty T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 27.820.281.830 đồng (hai mươi bảy tỷ, tám trăm hai mươi triệu, hai trăm tám mươi mốt nghìn, tám trăm ba mươi đồng), trong đó số tiền gốc là 22.280.188.675 đồng và lãi tính đến ngày 16/12/2024 là 5.540.093.155 đồng trong đó: lãi trong hạn là 160.234.234 đồng, lãi quá hạn là 5.012.540.466 đồng, lãi chậm trả lãi là 367.318.455 đồng và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/12/2024 trên nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết buộc Công ty T1 phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi nêu trên.

Kể từ ngày bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà Công ty T1 không trả số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số: 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG); Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số: 21.01/2022/ HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 21/01/2022 .

Trường hợp nếu phát mại tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ thì Công ty T1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí: Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài các vấn đề trên Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Bị đơn Công ty cổ phần T1 do ông Đỗ Quốc P đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Công ty cổ phần T1 (viết tắt là Công ty T1) xác nhận ngày Ngày 01/07/2021 Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh T (viết tắt là Ngân hàng) và Công ty T1 có ký Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021- HĐCVTL/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG), văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng cho vay ngày 21/01/2022 để vay số tiền là 33.000.000.000 đồng; Mục đích vay để: Thanh toán các chi phí đầu tư hợp pháp của dự án đầu tư bổ sung 02 sà lan tự nâng (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD; Thời hạn cho vay là 60 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày Bên cho vay giải ngân khoản nợ; Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất đối với dư nợ gốc quán hạn, lãi suất chậm trả lãi được quy định tại Điều 2 của Hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân khoản vay trên cho Công ty T1 theo giấy nhận nợ số 01 ngày 01/7/2021 và giấy nhận nợ số 02 ngày 24/01/2022 với số tiền là 33.000.000.000 đồng (Ba mươi ba tỷ đồng).

Nay Công ty Đ2 xác nhận còn nợ Ngân hàng theo như Ngân hàng cung cấp với số tiền là 27.123.196.074 đồng (hai mươi bảy tỷ, một trăm hai mươi ba triệu, một trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm bảy mươi tư đồng), trong đó số tiền gốc là 22.280.188.675 đồng và lãi tính đến ngày 11/11/2024 là 4.843.007.399 đồng trong đó: lãi trong hạn là 137.253.632 đồng, lãi quá hạn là 4.215.513.465 đồng, lãi phạt là 490.240.242 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 12/11/2024 trên nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do hiện nay Công ty T1 đang gặp khó khăn

trong kinh doanh nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho Công ty T1 thanh toán toàn bộ số tiền trên theo lộ trình thanh toán trong thời hạn như sau:

Năm 2024: Công ty Đ3 được trả số tiền là: 1.000.000.000 đồng, trong đó:

  • Tháng 11 năm 2024 trả số tiền: 500.000.000 đồng.
  • Tháng 12 năm 2024 trả số tiền: 500.000.000 đồng

Năm 2025: Công ty đề xuất trả số tiền là: 5.000.000.000 đồng, trong đó:

  • Tháng 03 năm 2025 Công ty đề xuất trả số tiền: 500.000.000 đồng
  • Tháng 06 năm 2025 trả số tiền: 1.000.000.000 đồng
  • Tháng 09 năm 2025 trả số tiền: 1.500.000.000 đồng
  • Tháng 12 năm 2025 trả số tiền: 2.000.000.000 đồng

Năm 2026: Công ty đề xuất trả số tiền là: 7.280.188.000 đồng và tiền lãi, trong đó:

  • Tháng 03 năm 2026 trả số tiền là: 1.000.000.000 đồng
  • Tháng 06 năm 2026 trả số tiền là: 2.000.000.000 đồng
  • Tháng 09 năm 2026 trả số tiền là: 2.000.000.000 đồng
  • Tháng 12 năm 2026 trả số tiền là: 2.280.188.000 đồng

Năm 2027: Công ty đề xuất trả số tiền là: 9.000.000.675 đồng và tiền lãi PS.

  • Tháng 03 năm 2026 trả số tiền là: 1.000.000.000 đồng
  • Tháng 06 năm 2026 trả số tiền là: 3.000.000.000 đồng
  • Tháng 09 năm 2026 trả số tiền là: 3.000.000.000 đồng
  • Tháng 12 năm 2026 trả số tiền là: 2.000.000.675 đồng và tiền lãi.

Đối với lãi phạt là 490.240.242 đồng thì Công ty T1 đề nghị Ngân hàng xem xét miễn giảm cho Công ty T1.

Trường hợp nếu Công ty T1 vi phạm bất kỳ mốc thời gian thanh toán nào theo đúng lộ trình đã cam kết nêu trên thì Công ty T1 đồng ý để Ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm gồm:

  • Sà lan tự nâng số 01 (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020; phụ lục số 01 ngày 05/02/2021 và phụ lục hợp đồng số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ.
  • Sà lan tự nâng số 02 (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100% phục vụ hoạt động SXKD theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020; phụ lục số 01 ngày 05/02/2021 và phụ lục hợp đồng số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ.

Hiện nay cả 02 xà lan tự nâng trên đã được Công ty TNHH một thành viên Đ nghiệm thu bàn giao cho Công ty cổ phần T1 theo đúng Hợp đồng mua bán và đã được đưa vào sử dụng theo số ký hiệu: VR 21065744 và VR 21065255.

Về án phí: Công ty T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý lộ trình thanh toán như Công ty Đ2 đã đề nghị vì trước đó Công ty T1 đã đưa ra lộ trình thanh toán nhưng trên thực tế đến nay đã gần hết tháng 12 Công ty Đ2 vẫn chưa thanh toán được cho Ngân hàng theo như đề nghị.

Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vắng mặt tại phiên toà.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 97/2025/KDTM- ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HĐ, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C đối với Công ty cổ phần T1.
  • Buộc Công ty cổ phần T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền nợ của Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021- HĐCVTL/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/7/2021, văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng cho vay ngày01/7/2021, ngày 04/01/2022, ngày 21/01/2022 tính đến ngày 16/12/2024 là là 27.820.281.830 đồng, trong đó: Nợ gốc: 22.280.188.675 đồng; Lãi trong hạn là 160.234.234 đồng; Lãi quá hạn là 5.012.540.466 đồng; Lãi phạt chậm trả lãi là 367.318.455 đồng.
  • Kể từ ngày 17/12/2024, Công ty cổ phần T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ .
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Công ty cổ phần T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ trên cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng TMCP C có quyền xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Sà lan tự nâng số 01 và Sà lan tự nâng số 02 (ký hiệu thiết kế SNN 01-02) theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020 và phụ lục số 01 ngày 05/02/2021, phụ lục số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ, tình trạng hiện nay đã được đưa vào sử dụng, có số ký hiệu: VR 21065744 và VR 21065255 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm được xử lý theo thực tế tại thời điểm xử lý tài sản.
  • Trường hợp Công ty cổ phần T1 thanh toán được số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng TMCP C có trách nhiệm trả lại giấy tờ đã thế chấp tại Ngân hàng cho người thế chấp tài sản và làm thủ tục giải chấp ngay.
  • Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì Công ty cổ phần T1 còn phải tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp thu được nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì phải trả lại cho người thế chấp tài sản.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm: Bị đơn là Công ty cổ phần T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Ngân hàng TMCP Đ4 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn do ông Đỗ Văn H1 đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận xét và đề nghị:

  • Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Đ1, sửa bản án sơ thẩm về số tiền lãi mà Công ty T1 phải thanh toán cho Ngân hàng C.
  • Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tính lại án phí sơ thẩm đối với Công ty T1. Về án phí phúc thẩm, Công ty T1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình tiến hành tố tụng, sau khi đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

  • Đơn kháng cáo của Công ty cổ phần T1 được làm và nộp trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
  • Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn có mặt theo Giấy triệu tập. Đại diện bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
  • Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần T1 phải thanh toán số tiền còn nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Công ty cổ phần T1 có địa chỉ trụ sở tại: Số A, liền kề A, KĐT X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận HĐ, thành phố Hà Nội thụ lý xét xử theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

Do bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xem xét lại toàn bộ nội dung bản án, tính hợp pháp của các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp.

2.1. Xét hiệu lực của Hợp đồng tín dụng và yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Ngày 01/7/2021, Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh T và Công ty cổ phần T1 có ký kết Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021-HĐCVTL/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) với các thỏa thuận như sau:

  • + Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
  • + Số tiền cam kết cho vay: 33.000.000.000 đồng;
  • + Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán chi phí đầu tư bổ sung 02 sà lan tự nâng (ký hiệu thiết kế S1) đóng mới 100%.
  • + Thời hạn giải ngân: 60 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng;
  • + Thời hạn cho vay: 60 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản vay đầu tiên.
  • + Lãi suất cho vay trong hạn: Ghi trên từng giấy nhận nợ và có giá trị kể từ thời điểm giải ngân cho đến khi có sự điều chỉnh lãi suất theo nguyên tắc: Lãi suất cho vay điều chỉnh 1 tháng/lần; Sau ngày xác định lãi suất, bên cho vay sẽ gửi thông báo lãi suất cho bên vay nếu lãi suất cho vay có sự thay đổi so với lãi suất đang áp dụng.
  • + Lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng kiêm Giấy nhận nợ là 8.5%/năm và chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên
  • + Lãi suất quá hạn: 150%/năm lãi suất cho vay trong hạn.
  • + Lãi suấtt chậm trả: 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả.
  • + Kỳ trả lãi: 01 tháng/1 lần.
  • +K trả nợ gốc: Ngân hàng sẽ lập lịch trả nợ gốc.
  • + Số tiền Ngân hàng đã giải ngân: 33.000.000.000 đồng thông qua 02 Giấy nhận nợ.
  • + Tổng số tiền Công ty T1 đã trả tính đến hết ngày 16/12/2024: 14.877.907.023 đồng, bao gồm:

Số tiền gốc đã trả: 10.719.811.325 đồng.

Số tiền lãi đã trả: 4.126.868.314 đồng.

Số tiền lãi phạt chậm trả đã trả: 31.227.384 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Ngân hàng trình bày: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng dư nợ của Công ty T1 tại V theo Hợp đồng cho vay nêu trên tạm tính đến ngày 16/12/2024 là: 27.785.674.628 đồng. Trong đó:

Dư nợ gốc là: 22.280.188.675 đồng;

Lãi trong hạn là: 3.410.597.052 đồng;

Lãi quá hạn là: 1.768.099.316 đồng;

Lãi chậm trả lãi là: 326.789.585 đồng.

Đại diện Ngân hàng trình bày: Lý do có sự thay đổi về tổng dư nợ so với trình bày của nguyên đơn tại Tòa án cấp sơ thẩm là do tại cấp phúc thẩm, sau khi rà soát và tính toán lại số liệu, Ngân hàng xác định tổng dư nợ của Công ty cổ phần T1 tạm tính đến ngày 16/12/2024 là 27.785.674.628 đồng. Việc tính toán các khoản tiền lãi của khách hàng, được Ngân hàng thực hiện đúng theo thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay; Phụ lục Hợp đồng cho vay; Giấy nhận nợ và các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của bị đơn. Do vậy, Ngân hàng TMCP C tự nguyện điều chỉnh số tiền mà Ngân hàng yêu cầu Công ty T1 phải thanh toán tạm tính đến ngày 16/12/2024 thấp hơn số tiền mà Ngân hàng đã trình bày tại cấp sơ thẩm.

Hội đồng xét xử thấy, Ngân hàng TMCP C và Công ty cổ phần T1 là hai pháp nhân có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Việc giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 319, 320, 357 Bộ luật dân sự 2015. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021-HĐCVTL/NHCT326-T1 và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C và Công ty cổ phần T1 là hợp pháp, có hiệu lực ràng buộc giữa các bên.

Về yêu cầu khởi kiện đòi tiền nợ gốc của nguyên đơn:

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền cam kết cho vay là 33.000.000 đồng. Bị đơn không có ý kiến phản đối về số tiền đã được giải ngân và đã trả được một phần nợ gốc là 10.719.811.325 đồng. Đến ngày 25/8/2023, Công ty T1 bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo thỏa thuận, Ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi ngay toàn bộ dư nợ gốc còn lại. Tính đến ngày 16/12/2024, Công ty T1 còn dư nợ gốc tại V là 22.280.188.675 đồng. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn đã thừa nhận số tiền nợ gốc và nghĩa vụ trả nợ đúng như Ngân hàng trình bày, bị đơn chỉ xin được giãn thời gian trả nợ theo lộ trình nhưng không được Ngân hàng chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 22.280.188.675 đồng cho V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung này.

Về yêu cầu khởi kiện đòi tiền nợ lãi:

Theo nội dung Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021-HĐCVTL/NHCT326-T1; các Phụ lục hợp đồng và Giấy nhận nợ: Công ty T1 có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho V theo đúng thỏa thuận về lãi suất và kỳ hạn. Nếu Công ty không trả lãi đúng hạn thì khoản lãi đó bị áp dụng lãi suất phạt chậm trả là 10%/năm trên số lãi chậm trả. Đồng thời, nếu khoản nợ gốc bị quá hạn thì số dư nợ gốc quá hạn phải chịu lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn. Đây là các thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc, đại diện nguyên đơn trình bày:

* Đối với số tiền giải ngân theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 01/7/2021, số tài khoản tiền vay 802004599746:

  • Lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng là 8,5%/năm và chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên đối với những khoản giải ngân phát sinh tại ngày ký Hợp đồng (theo mục vi khoản a Điều 2.01 của Hợp đồng cho vay).
  • Lãi suất cho vay được điều chỉnh 01 tháng/1 lần (theo mục ii khoản a Điều 2.01 của Hợp đồng cho vay).
  • Thực tế áp dụng lãi suất đối với khoản vay như sau:
    • + Lãi suất 8,5%/năm được áp dụng từ ngày 1/7/2021 (ngày giải ngân đầu tiên) đến ngày 25/7/2022.
    • + Lãi suất 10,5%/năm được áp dụng từ ngày 26/7/2022 và có giá trị đến ngày 24/11/2022 theo Thông báo lãi suất tiền vay số 61/NHCTTL – KHDN ngày 26/7/2022.
    • + Lãi suất 12,5%/năm được áp dụng từ ngày 25/11/2022 và có giá trị đến ngày 16/12/2024 (thời điểm xét xử sơ thẩm) theo Thông báo lãi suất tiền vay số 80/NHCTTL – KHDN ngày 25/11/2022.

* Đối với số tiền giải ngân theo Giấy nhận nợ số 02 ngày 24/01/2022, số tài khoản tiền vay 809004903657:

  • Lãi suất cho vay tại thời điểm ký Hợp đồng là 8,5%/năm và chỉ có giá trị cho kỳ tính lãi đầu tiên đối với những khoản giải ngân phát sinh tại ngày ký Hợp đồng (theo mục vi khoản a Điều 2.01 của Hợp đồng cho vay).
  • Lãi suất cho vay được điều chỉnh 01 tháng/1 lần (theo mục ii khoản a Điều 2.01 của Hợp đồng cho vay).
  • Thực tế áp dụng lãi suất đối với khoản vay như sau:
    • + Lãi suất 8,5%/năm được áp dụng từ ngày 24/01/2022 (ngày giải ngân đầu tiên) đến ngày 24/11/2022 theo Thông báo lãi suất tiền vay số 10/NHCTTL – KHDN ngày 24/01/2022.
    • + Lãi suất 12,5%/năm được áp dụng từ ngày 25/11/2022 và có giá trị đến ngày 16/12/2024 (thời điểm xét xử sơ thẩm) theo Thông báo lãi suất tiền vay số 81/NHCTTL – KHDN ngày 25/11/2022.

Trên cơ sở thỏa thuận về lãi suất và trình bày của nguyên đơn, tại phiên tòa ngày 19/6/2025, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn cung cấp bổ sung tài liệu là các Quyết định áp dụng lãi suất; Thông báo về việc điều chỉnh lãi suất và rà soát lại số liệu về các khoản tiền lãi đối với khoản vay của Công ty T1.

Tại phiên tòa được mở tiếp vào ngày 25/6/2025, đại diện Nguyên đơn trình bày: Tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/12/2024, Công ty Đ2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền lãi là 5.505.485.953 đồng như Ngân hàng trình bày tại Bản tự khai ngày 22/5/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm là đúng. Trong đó:

Lãi trong hạn là: 3.410.597.052 đồng;

Lãi chậm trả lãi là: 326.789.585 đồng;

Lãi quá hạn là: 1.768.099.316 đồng.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn về việc thanh toán tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là phù hợp với nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay dự án đầu tư; Phụ lục hợp đồng và Giấy nhận nợ. Các thỏa thuận về lãi suất được hai bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Ngân hàng đã có văn bản giải trình về cách tính tiền lãi (kèm theo là Bảng kê tính lãi chi tiết; Quyết định lãi suất áp dụng; Thông báo về việc điều chỉnh lãi suất). Xét thấy, phương pháp tính tiền lãi của Ngân hàng là với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021-HĐCVTL/NHCT326-T1; Phụ lục Hợp đồng cho vay dự án đầu tư; Giấy nhận nợ và các quy định khác của pháp luật, đảm bảo được quyền lợi của bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do vậy, cần sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bị đơn là Công ty cổ phần T1 phải thanh toán tổng số tiền lãi cho Ngân hàng TMCP C đến ngày 16/12/2024 là 5.505.485.953 đồng (Trong đó: Lãi trong hạn là: 3.410.597.052 đồng; Lãi chậm trả lãi là: 326.789.585 đồng; Lãi đối với dư nợ gốc bị quá hạn là: 1.768.099.316 đồng).

Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn đề nghị xin miễn giảm khoản tiền lãi phạt chậm trả lãi do bị đơn đang gặp khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, xét thấy đây là khoản phạt lãi đã được các bên thỏa thuận rõ trong hợp đồng và không trái pháp luật. Việc bị đơn chậm thanh toán tiền lãi đã xâm phạm đến quyền lợi của bên cho vay nên phải chịu chế tài theo hợp đồng. Hiện nay, bị đơn gặp khó khăn về tài chính không phải là căn cứ pháp lý để được miễn giảm lãi chậm trả.

2.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn:

Để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Công ty T1 cho V, Công ty T1 và V đã ký kết Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/07/2021 và Sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị ký ngày 21/01/2022, theo đó:

  • + Tài sản bảo đảm là toàn bộ thiết bị hình thành từ vốn vay theo Hợp đồng mua bán số 03/2020 ngày 15/9/2020 và các Phụ lục kèm theo về việc mua bán 02 xà lan tự nâng ký hiệu thiết kế SNN 01-02 đóng mới 100%, tổng giá trị sau thuế là 52.287983.000 đồng.
  • + Phạm vi bảo đảm: Theo điểm a khoản 1.02 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp: “Nghĩa vụ được bảo đảm” là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm: gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác) của Bên được bảo đảm (nêu tại khoản 1.01 của Điều này) đối với Bên nhận thế chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay, hợp đồng cấp bảo lãnh, hợp đồng chiết khấu...mà Bên được bảo đảm ký với Bên nhận thế chấp trước, cùng và/hoặc sau thời điểm ký kết Hợp đồng này (gọi chung là “Hợp đồng cấp tín dụng”).

Hợp đồng thế chấp được lập bằng văn bản, có nội dung rõ ràng, xác định cụ thể tài sản bảo đảm, mục đích bảo đảm và nghĩa vụ được bảo đảm. Chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bên nào có khiếu nại về hình thức hoặc nội dung của hợp đồng. Tài sản chấp đã được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản theo đúng quy định tại Điều 297, Điều 319,

Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Do đó, có căn cứ xác định Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/07/2021 và Phụ lục sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp là hợp pháp, có hiệu lực thi hành và ràng buộc nghĩa vụ bảo đảm đối với bị đơn.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Bị đơn không chứng minh được đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, không có căn cứ pháp lý phản bác hiệu lực của hợp đồng thế chấp. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng TMCP C về việc xử lý tài sản bảo đảm là có cơ sở pháp luật, phù hợp với nội dung Hợp đồng thế chấp đã ký kết.

Về tình trạng thực tế của tài sản bảo đảm: Theo Biên bản xem xét, thẩm định tài sản ngày 29/7/2024 và ngày 20/8/2024 do Tòa án sơ thẩm thực hiện và xác minh từ các đơn vị liên quan, hiện nay 01 sà lan đang hoạt động tại Cảng V, Thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; 01 sà lan, Công ty T1 tháo dời một số bộ phận để bảo dưỡng, trong đó thân sà lan đang bảo dưỡng tại Nhà máy Đ5, Hải Phòng; 04 cụm trụ nâng và 01 trạm nguồn thủy lực đang được bảo dưỡng tại Công ty TNHH C1, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Ngân hàng TMCP C trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng cùng Tòa án cấp sơ thẩm và các bên liên quan đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Ngân hàng khẳng định các tài sản/bộ phận của tài sản đã được tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đúng là tài sản mà bị đơn đã thế chấp với Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/07/2021. Việc tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ là đúng quy định, Ngân hàng không có ý kiến gì khác và không đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thẩm định lại.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 111 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015, sà lan và các thiết bị cấu thành (thân tàu, trụ nâng, trạm thủy lực...) được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, có thể định giá và xử lý được khi đã có đủ căn cứ chứng minh thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm. Việc tài sản đang trong quá trình tháo dỡ để bảo dưỡng không làm mất hiệu lực của Hợp đồng thế chấp và không làm mất quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về việc xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm là 02 sà lan tự nâng theo Hợp đồng thế chấp 0107/2021/HĐBĐ/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/07/2021 và Phụ lục hợp đồng thế chấp. Tài sản bảo đảm được xử lý theo thực tế tại thời điểm xử lý tài sản.

Từ phân tích trên và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần T1, sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền lãi mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn (tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm).

Về án phí: Công ty cổ phần T1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 280, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (được sửa đổi bổ sung năm 2010).

Căn cứ Điều 317; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 323; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 29 và mục 1.4 phần II danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C đối với Công ty cổ phần T1 .

  • Buộc Công ty cổ phần T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số 0107/2021- HĐCVTL/NHCT326-T1 (02 SÀ LAN TỰ NÂNG) ngày 01/7/2021 và các văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng cho vay ngày 01/7/2021, ngày 04/01/2022, ngày 21/01/2022 (tính đến ngày 16/12/2024) là 27.785.674.628 đồng. Trong đó:

    Dư nợ gốc là: 22.280.188.675 đồng;

    Lãi trong hạn là: 3.410.597.052 đồng;

    Lãi chậm trả lãi là: 326.789.585 đồng;

    Lãi quá hạn là: 1.768.099.316 đồng.

  • Kể từ ngày 17/12/2024, Công ty cổ phần T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • 2. Trường hợp Công ty cổ phần T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ trên cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng TMCP C có quyền xử lý tài sản thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Sà lan tự nâng số 01 và Sà lan tự nâng số 02 (ký hiệu thiết kế SNN 01-02) theo Hợp đồng mua bán số 03/2020/HĐMB/ĐF-HH ngày 15/09/2020 và phụ lục số 01 ngày 05/02/2021, phụ lục số 02 ngày 02/8/2021 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH MTV Đ, tình trạng hiện nay đã được đưa vào sử dụng, có số ký hiệu: VR 21065744 và VR 21065255 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm được xử lý theo hiện trạng thực tế tại thời điểm xử lý tài sản.
  • Trường hợp Công ty cổ phần T1 thanh toán hết số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng TMCP C có trách nhiệm trả lại giấy tờ đã thế chấp tại Ngân hàng cho người thế chấp tài sản và làm thủ tục giải chấp ngay.
  • Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì Công ty cổ phần T1 phải tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp thu được nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì Ngân hàng phải trả lại cho người thế chấp tài sản.

3. Về án phí sơ thẩm:

Công ty cổ phần T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 135.785.675 đồng.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP C số tiền 66.500.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043800 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận HĐ, thành phố Hà Nội.

4. Về án phí phúc thẩm:

Hoàn trả Công ty cổ phần T1 số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0044770 ngày 24/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận HĐ, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • VKSND TP Hà Nội;
  • CCTHADS quận HĐ;
  • TAND quận HĐ;
  • Các đương sự;
  • Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2025/KDTM-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 159/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG C - CÔNG TY T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger