Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2025/KDTM-PT

Ngày: 06/6/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang

Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Như Mai

Bà Mai Thị Thanh Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Long – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 28/5/2025 và 06/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLPT-KDTM ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án sơ thẩm số 2145/2024/KDTM-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1624/2025/QĐPT-KDTM ngày 26/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5956/2025/QĐ-HPT ngày 25/4/2025, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C

Địa chỉ: A T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Vĩnh P, sinh năm 1980

Địa chỉ: Tầng A, tầng lửng và tầng 2 đến tầng 6 Tòa nhà số I H, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty cổ phần Đ

Địa chỉ: A - A U, Phường B, quận B, TP H

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng N, sinh năm 1981

1

Địa chỉ: 6 Đ, Phường B, quận B, TP H

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Lan A, sinh năm 1980

Địa chỉ: C B, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1979

Cư trú: G Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Lan A, sinh năm 1980

Địa chỉ: C B, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Ngô Thanh T1, sinh năm 1977

3/ Bà Trần Thị Như V, sinh năm 1978

Cùng cư trú: Căn hộ chung cư S, Chung cư G, khu phố F, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 và bà V: Bà Trần Thị Lan A, sinh năm 1980

Địa chỉ: C B, phường B, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Bà Ngô Hoàng Bảo U, sinh năm 1999

5/ Ngô Hoàng Bảo K, sinh năm 2007 (có người đại diện theo pháp luật là bà Trần Thị Như V)

Cùng cư trú: Căn hộ chung cư S, Chung cư G, khu phố F, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

6/ Ông Huỳnh T2, sinh năm 1959

7/ Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1995

8/ Ông Tô Thanh T3, sinh năm 1983

9/ Bà Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1992

Cùng địa chỉ: A N, phường X, quận N, Thành phố Cần Thơ.

(Đại diện nguyên đơn, bị đơn và đại diện ông T1, bà V có mặt tại phiên toà. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số 093/2021-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 01/7/2021 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C và Công ty cổ phần Đ với hạn mức là 80.000.000.000 đồng (T4 mươi tỷ đồng) thời hạn 01/7/2021 đến 30/6/2022, có Giấy nhận nợ số 26 ngày 14/3/2022, Giấy nhận nợ số 27 ngày 07/4/2022, Giấy nhận nợ số 28 ngày 13/5/2022, Giấy nhận nợ số 29 ngày 24/5/2022, Giấy nhận nợ số 30 ngày 26/5/2022, Giấy nhận nợ

2

số 31 ngày 08/6/2022, Giấy nhận nợ số 32 ngày 14/6/2022, Giấy nhận nợ số 33 ngày 15/6/2022. Khoản vay này đã tất toán xong ngày 10/11/2022.

Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 và Phụ lục I đính kèm được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C và Công ty cổ phần Đ với hạn mức là 80.000.000.000 đồng (T4 mươi tỷ đồng) với thời hạn ngày 10/8/2022 đến 10/8/2023.

Ngân hàng thương mại cổ phần C đã cho Công ty cổ phần Đ vay chi tiết như sau:

  1. Số tiền gốc cho vay: 60.859.896.615 đồng, chi tiết nhận nợ:
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 01 là : 5.087.765.925 đồng ngày 18/08/2022, đã tất toán ngày 18/01/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 02 là : 4.549.770.191 đồng ngày 07/09/2022, đã tất toán ngày 31/01/2023.
    • + K1 vay theo Giấy nhận nợ số 03 là: 3.000.000.000 đồng ngày 07/10/2022, đã tất toán ngày 07/03/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 04 là : 9.084.000.000 đồng ngày 13/10/2022, đã tất toán ngày 22/03/2023.
    • + K1 vay theo Giấy nhận nợ số 05 là: 5.147.773.062 đồng ngày 14/10/2022, đã tất toán ngày 23/03/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 06 là : 4.500.000.000 đồng ngày 17/10/2022, đã tất toán ngày 24/03/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 07 là : 4.363.518.623 đồng ngày 18/10/2022, đã tất toán ngày 29/03/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 08 là : 4.009.458.315 đồng ngày 19/10/2022, đã tất toán ngày 29/03/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 09 là : 3.902.125.243 đồng ngày 02/11/2022, đã tất toán ngày 12/04/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 10 là: 17.232.659.965 đồng vào ngày 09/11/2022.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 11 là: 7.534.470.725 đồng vào ngày 10/11/2022.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 12 là: 2.520.000.000 đồng vào ngày 17/01/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 13 là: 1.041.436.147 đồng vào ngày 17/01/2023.
    • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 14 là: 1.526.329.778 đồng vào ngày 18/01/2023.

3

  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 15 là: 4.600.000.000 đồng vào ngày 22/03/2023.
  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 16 là: 4.478.000.000 đồng vào ngày 23/03/2023.
  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 17 là: 5.147.000.000 đồng vào ngày 24/03/2023.
  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 18 là: 4.500.000.000 đồng vào ngày 24/03/2023.
  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 19 là: 8.372.000.000 đồng vào ngày 29/03/2023.
  • + Khoản vay theo Giấy nhận nợ số 20 là: 3.908.000.000 đồng vào ngày 13/04/2023.

Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty. Thời hạn duy trì hạn mức kể từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/8/2023. Biện pháp bảo đảm tiền vay: Thế chấp bằng 02 tài sản đảm bảo gồm:

  • Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 864834 (số vào sổ cấp GCN số CS02923), thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, địa chỉ A đường N, phường X, quận N, Thành phố Cần Thơ do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T đứng tên sở hữu theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 049/2019/HĐBĐ/NHCT902 ngày 05/06/2019 và các Phụ lục Văn bản/Hợp đồng sửa đổi, bổ sung khác đã được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C và ông Nguyễn Tuấn T.
  • Căn hộ chung cư tại địa chỉ Khu phố Green V, khu phố F, phường T, Quận G, TP . theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 618173 (số vào sổ cấp GCN số CH 02693), thửa đất số: 13, tờ bản đồ số: 65; địa chỉ đất: Khu phố G, khu phố F, phường T, Quận G do Ủy ban nhân dân Quận G cấp ngày 30/06/2015 cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V đứng tên sở hữu theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 112/2020/HĐBĐ/NHCT902-MinhVietCorp ngày 30/07/2020 và các Phụ lục/Văn bản/Hợp đồng sửa đổi, bổ sung khác (nếu có) đã được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần C và ông Ngô Thanh T1, bà Trần Thị Như V.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, Công ty cổ phần Đ đã thanh toán tổng số tiền là 112.447.872.238 đồng, gồm:

  • Tiền gốc đã trả: 107.956.611.359 đồng.
  • Tiền lãi đã trả: 4.452.202.471 đồng.
  • Tiền lãi phạt đã trả: 39.058.408 đồng.

4

Từ ngày 10/04/2023, Công ty cổ phần Đ không thanh toán đúng tiến độ như đã cam kết trong hợp đồng cho vay. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần C tiến hành khởi kiện Công ty cổ phần Đ.

Ngân hàng TMCP C yêu cầu Công ty cổ phần Đ (Bên vay vốn) và Bên bảo lãnh bằng tài sản (Bên có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan) như sau:

Đề nghị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP C và buộc Công ty cổ phần Đ phải trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền vay gốc còn nợ cùng số tiền lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, lãi đối với dư nợ gốc bị quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/8/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 71.090.590.633 đồng, gồm: Nợ gốc: 60.859.896.615 đồng, N1 lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, N1 lãi quá hạn: 9.231.181.300 đồng, Nợ lãi chậm trả lãi: 789.816.280 đồng.

Ngoài ra, Công ty cổ phần Đ còn phải trả cho ngân hàng số tiền lãi vay trong hạn, lãi phạt nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi và các khoản phí phát sinh từ 19/6/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền vay gốc còn nợ theo lãi suất trong Hợp đồng cho vay;

Sau khi án có hiệu lực pháp luật nếu Công ty cổ phần Đ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T đứng tên người sử dụng đất và Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại địa chỉ Căn hộ C, Chung cư G, khu phố F, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019.

Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không trả đủ nợ thì bên bảo lãnh ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V phải có trách nhiệm trả nợ cho đến khi Công ty cổ phần Đ trả hết nợ theo cam kết tại văn bản bảo lãnh ngày 03/06/2019 và ngày 30/07/2020.

Bà Trần Thị Lan A là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần Đ trình bày: Đại diện Công ty cổ phần Đ cam kết sẽ thực hiện thanh toán công nợ tại Ngân hàng TMCP C với thời gian như sau:

5

Công ty cổ phần Đ xin được miễn toàn bộ lãi quá hạn, lãi phạt của khoản vay vì công ty đang gặp khó khăn. Công ty xin được giảm lãi trong hạn và xin được tất toán từng phần của dư nợ tại ngân hàng. Công ty xin được thanh toán dư nợ gốc trước và công ty Đ1 tự xử lý tài sản đảm bảo và huy động tài chính cá nhân của các cổ đông, người liên quan để tất toán khoản vay tại ngân hàng.

Thời gian Công ty cổ phần Đ cam kết tất toán toàn bộ khoản vay tại ngân hàng là quý 2 năm 2024. Trong thời gian từ ngày 25/3/2024 sẽ thực hiện tất toán từng phần dư nợ gốc của khoản vay tại quý ngân hàng. Công ty rất mong ngân hàng chấp thuận ý kiến và tạo điều kiện để công ty thực hiện theo cam kết trong bản tự khai này.

Theo thông báo của Ngân hàng TMCP C tạm tính đến ngày 25/3/2024 tổng số tiền phải trả là 69.067.261.149 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 60.859.896.615 đồng, N1 lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, N1 lãi quá hạn: 7.295.336.352 đồng, Nợ lãi chậm trả lãi: 702.331.744 đồng thì Công ty cổ phần Đ ghi nhận để có kế hoạch tất toán theo cam kết.

Bà Trần Thị Lan A là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V trình bày: Đại diện của ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V xin ngân hàng cho gia hạn tất toán khoản vay tới quý 2 năm 2024 vì chưa huy động được đủ số tiền để tất toán toàn bộ khoản vay mà tài sản của ông T1 và bà V bảo đảm bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP C. Đại diện của ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V xin được giảm lãi trong hạn, miễn lãi phạt và lãi quá hạn, xin được tất toán dư nợ gốc trước. Đại diện của ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V sẽ thực hiện thanh toán dần từ ngày 25/3/2024. Rất mong nhận được sự hỗ trợ từ phía Ngân hàng TMCP С.

Ông Huỳnh T2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Ngày 27/12/2021, ông Huỳnh T2 có ký hợp đồng thuê nhà với ông Nguyễn Tuấn T để thuê thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ mở quán bán cà phê. Quán cà phê tên Kim N2, mỗi tháng trả 30.000.000 đồng, thời hạn thuê là 01 năm từ ngày 27/12/2021 đến ngày 27/12/2022. Tuy nhiên, sau khi hết hạn thuê, ông Huỳnh T2 và ông Nguyễn Tuấn T ký tiếp và gia hạn hợp đồng thuê cho đến nay. Đến tháng 09/2023, ông Huỳnh T2 có chuyển tiền thuê quý 4/2023 cho ông Nguyễn Tuấn T với số tiền 90.000.000 đồng cho tiền thuê trong tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2023.

Khi ông Huỳnh T2 ký hợp đồng thuê đất này thì đây là miếng đất trống. Ông Huỳnh Thành T5 lót gạch men, xây tường bao khu đất hết. Có cấu trúc bán kiên cố, khung cột thép gỗ, phần đất này không tranh chấp lấn chiếm với ai.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần C khởi kiện Công ty cổ phần Đ thì ông Huỳnh T2 không liên quan gì. Đây là nghĩa vụ trả nợ của Công ty cổ phần Đ với Ngân hàng thương mại cổ phần C. Ông Huỳnh T2 cũng không liên quan đến việc thế chấp tài sản tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Tuấn T ký hợp đồng thế chấp với

6

Ngân hàng thương mại cổ phần C. Do đó, ông Huỳnh T2 đề nghị Tòa án không đưa ông Huỳnh T2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong trường hợp thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ bị phát mãi tài sản thì ông Huỳnh Thành đồng Ý việc phát mãi tài sản và không có tranh chấp gì.

Giữa ông Huỳnh T2 và ông Nguyễn Tuấn T ký hợp đồng thuê nhà, nếu phát mãi tài sản thì ông Huỳnh T2 sẽ thực hiện như trong hợp đồng. Ông Huỳnh T2 sẽ hoàn trả hiện trạng như ban đầu của thửa đất, đồng thời ông Nguyễn Tuấn T phải hoàn trả lại cho ông Huỳnh T2 100.000.000 đồng tiền cọc. Ông Huỳnh T2 không có yêu cầu độc lập với ông Nguyễn Tuấn T liên quan đến tài sản thế chấp trong vụ án này. Ông Huỳnh T2 không có đăng ký tạm trú tại thửa đất số 499 tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Ông Bùi Thanh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Khoảng tháng 01 năm 2022, ông S có làm thuê cho ông Huỳnh T2 tại quán C1 ở số A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Ông S làm việc buổi sáng từ 5 giờ đến 11 giờ và buổi chiều từ 17 giờ đến 22 giờ. Sau đó ông S ở lại canh quán. Ông S không đăng ký tạm trú hay sinh sống ở địa chỉ A N khai, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Ông S không liên quan đến khoản vay giữa Công ty cổ phần Đ và cũng không liên quan đến việc thế chấp tài sản là thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Tuấn T ký hợp dồng thế chấp với Ngân hàng thương mại cổ phần C. Do đó, ông S đề nghị Tòa án không đưa ông S vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ông Tô Thanh T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Khoảng tháng 01, tháng 02 năm 2022, ông T3 có làm thuê cho ông Huỳnh T2 tại quán C1 ở số A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Thời gian làm việc từ 5 giờ 30 phút đến 17 giờ chiều trong ngày. Ông T3 không đăng ký tạm trú hay sinh sống ở địa chỉ A N khai, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Ông T3 không liên quan đến khoản vay giữa công ty cổ phần Đ và cũng không liên quan đến việc thế chấp tài sản là thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Tuấn T ký hợp dồng thế chấp với Ngân hàng thương mại cổ phần C. Do đó, ông T3 đề nghị Tòa án không đưa ông T3 vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bà Lê Thị Ngọc M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Khoảng tháng 01 năm 2022, bà M có làm thuê cho ông Huỳnh T2 tại quán C1 ở số A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Thời gian làm việc từ 5 giờ 30 phút đến 17 giờ chiều trong ngày. Bà M không đăng ký tạm trú hay sinh sống ở địa chỉ A N khai, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Bà M không liên quan đến khoản vay giữa Công ty cổ phần Đ và cũng không liên quan đến việc thế chấp

7

tài sản là thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ do ông Nguyễn Tuấn T ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng thương mại cổ phần C. Do đó, bà M đề nghị Tòa án không đưa bà M vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên toà:

Đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần C yêu cầu Công ty cổ phần Đ phải trả toàn bộ số tiền vay còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 73.763.310.137 đồng (gồm: Nợ gốc: 60.859.896.615 đồng, N1 lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, N1 lãi quá hạn: 11.482.163.785 đồng, Nợ lãi chậm trả lãi: 1.211.553.299 đồng).

Ngoài ra, Công ty cổ phần Đ còn phải trả cho ngân hàng số tiền lãi vay trong hạn, lãi phạt nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi và các khoản phí phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền vay gốc còn nợ theo lãi suất trong hợp đồng cho vay.

Trường hợp Công ty cổ phần Đ thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 cho Ngân hàng thương mại cổ phần C thì ngân hàng trả lại bản chính: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019.

Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T đứng tên người sử dụng đất và Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại địa chỉ Căn hộ C, Chung cư G, khu phố F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019.

8

Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không trả đủ nợ thì bên bảo lãnh ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V phải có trách nhiệm trả nợ cho đến khi Công ty cổ phần Đ trả hết nợ theo cam kết tại văn bản bảo lãnh ngày 03/06/2019 và 30/07/2020.

Đối với Bị đơn:

Mặc dù bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án triệu tập để tham gia giải quyết vụ án nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà: Nguyễn Tuấn T, Ngô Thanh T1, Trần Thị Như V cùng ủy quyền cho bà Trần Thị Lan A làm người đại diện; bà Ngô Hoàng Bảo U; trẻ Ngô Hoàng Bảo K, sinh năm 2007 (có người đại diện theo pháp luật bà Trần Thị Như V). Mặc dù các đương sự nêu trên đã được Tòa án triệu tập để tham gia giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà: H, Bùi Thanh S, Tô Thanh T3, Lê Thị Ngọc M đều có đơn xin vắng mặt.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 2145/2024/KDTM-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh đã tuyên:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C.
    1. Công ty cổ phần Đ phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 cho ngân hàng thương mại cổ phần C ngay khi án có hiệu lực pháp luật với tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 73.763.310.137 đồng, gồm: Nợ gốc: 60.859.896.615 đồng, N1 lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, N1 lãi quá hạn: 11.482.163.785 đồng, Nợ lãi chậm trả lãi: 1.211.553.299 đồng.

      Công ty cổ phần Đ còn phải trả cho ngân hàng số tiền lãi vay trong hạn, lãi phạt nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi và các khoản phí phát sinh từ 27/9/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền vay gốc còn nợ theo lãi suất trong hợp đồng cho vay.

    2. Trường hợp Công ty cổ phần Đ thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 cho ngân hàng thương mại cổ phần C thì ngân hàng thương mại cổ phần C phải trả lại bản chính: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019.
    3. Trường hợp công ty cổ phần Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì ngân Hàng thương mại cổ phần C

9

  • có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp của công ty cổ phần Đ gồm Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T đứng tên người sử dụng đất) và Q sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại địa chỉ Căn hộ C, Chung cư G, khu phố F, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  • Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không trả đủ nợ thì bên bảo lãnh ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V phải có trách nhiệm trả nợ cho đến khi công ty cổ phần Đ trả hết nợ theo cam kết tại văn bản bảo lãnh ngày 03/06/2019 và ngày 30/07/2020.

2. Về án phí:

2.1 Công ty cổ phần Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 181.763.310 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 85.051.000 đồng theo biên lai thu số 0028361 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ án thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18/10/2024, Công ty cổ phần Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại tài sản đảm bảo của bà V, ông T1 trong hợp đồng thế chấp, trên giá trị tài sản bà V và ông T1 chỉ phải trả số nợ cho ngân hàng là 3.800.000.000 đồng, đồng thời không có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Công ty cổ phần Đ. Ngoài ra, bị đơn còn đề nghị xem xét giảm tiền lãi trong hạn, miễn lãi phạt, lãi quá hạn.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

– Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

10

Về nội dung: Công ty cổ phần Đ không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại quận B, nên Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Các bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm nên thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Ngô Hoàng Bảo U, bà Trần Thị Như V đại diện theo pháp luật của trẻ Ngô Hoàng Bảo K, ông Huỳnh T2, ông Bùi Thanh S, ông Tô Thanh T3, bà Lê Thị Ngọc M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn cùng thừa nhận giữa các bên có ký Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022, mục đích vay vốn để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty với số tiền gốc là 60.859.896.615 đồng. Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, Công ty Đ đã thế chấp các tài sản theo các hợp đồng thế chấp như sau :

  • Hợp đồng thế chấp tài sản số 049/2019/HĐBĐ/NHCT902 ngày 03/06/2019 đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, địa chỉ A đường N, phường X, quận N, Thành phố Cần Thơ được ký kết giữa các bên gồm Ngân hàng thương mại cổ phần C – Chi nhánh 1 Thành phố Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Tuấn T do công chứng viên Phòng C2, Thành phố Cần Thơ chứng nhận ngày 05/6/2019 và đã được chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 06/6/2019 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N, Thành phố Cần Thơ.
  • Vào cùng ngày 03/6/2020, ông Nguyễn Tuấn T đã lập Văn bản bảo lãnh, theo đó cam kết bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ khác của Công ty cổ phần Đ.
  • Hợp đồng thế chấp tài sản số 112/2020/HĐBĐ/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 30/07/2020 đối với căn hộ A7-4, Chung cư G, khu phố F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh được ký kết giữa Ngân hàng thương

11

mại cổ phần C và ông Ngô Thanh T1, bà Trần Thị Như V đã công chứng tại Phòng C3 ngày 30/7/2020 và đã được chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 31/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào cùng ngày 30/7/2020, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V lập Văn bản bảo lãnh cam kết bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ khác của Công ty cổ phần Đ.

Xét thấy, hợp đồng do các bên tự nguyện ký kết và không có bên nào phản đối hiệu lực của hợp đồng tại thời điểm ký kết. Sau khi ký các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản, các đương sự không có ý kiến phản đối về tính hợp pháp của các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, các bên tham gia hợp đồng buộc phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thoả thuận tại hợp đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ.

Hiện nay bị đơn chưa thanh toán số tiền nợ gốc 60.859.896.615 đồng,

Đối với lãi suất, căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng quy định thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức quy định pháp luật”.

Nguyên đơn xác định tính lãi trong hạn là 9%/năm và lãi quá hạn đối với nợ gốc là 13,5%/năm, lãi phạt chậm trả là 10%/năm. Bị đơn phải thanh toán nợ lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, nợ lãi quá hạn: 11.482.163.785 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 1.211.553.299 đồng. Xét thấy cách tính lãi suất như trên của nguyên đơn không trái với quy định pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Toà án nhân dân quận Bình Thạnh xác định nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ đối với khoản nợ gốc và lãi nêu trên là đúng.

[2.2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Đ về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V.

Tại phiên toà, bà Lan A đại diện bị đơn xác định ông T1 và bà V không kháng cáo, nhưng Công ty Đ kháng cáo đề nghị xem xét lại phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh của ông T1, bà V.

Xét thấy, vào cùng ngày lập hợp đồng thế chấp, ông T1 và bà V đã ký Văn bản bảo lãnh ngày 30/7/2020, theo đó, ông bà đã đồng ý bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác) phát sinh từ tất cả các hợp đồng cấp tín dụng mà bên Công ty cổ phần Đ ký với Ngân hàng thương mại cổ phần C. Nguyên đơn yêu cầu trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không trả đủ nợ thì ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V phải có trách nhiệm trả nợ cho đến khi Công ty cổ phần Đ trả hết nợ theo cam kết tại văn bản bảo lãnh ngày 30/07/2020 là phù hợp theo thỏa thuận đã ký giữa các bên và quy định tại Điều 335, Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu kháng cáo này của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

12

[2.3] Các phần quyết định khác của bản án không bị kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh, buộc bị đơn phải thanh toán khoản nợ gốc và lãi 60.859.896.615 đồng, lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, nợ lãi quá hạn: 11.482.163.785 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 1.211.553.299 đồng phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022, đồng thời chấp nhận yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[3]. Về án phí:

Bị đơn không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Đ.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 30; Điều 38; Điều 148; điểm b, d khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần C.

[1.1] Công ty cổ phần Đ phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 cho Ngân hàng thương mại cổ phần C ngay khi án có hiệu lực pháp luật với tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2024 là 73.763.310.137 đồng, gồm: Nợ gốc: 60.859.896.615 đồng, N1 lãi trong hạn: 209.696.438 đồng, N1 lãi quá hạn: 11.482.163.785 đồng, Nợ lãi chậm trả lãi: 1.211.553.299 đồng.

Công ty cổ phần Đ còn phải trả cho ngân hàng số tiền lãi vay trong hạn, lãi phạt nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi và các khoản phí phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến khi thanh toán hết số tiền vay gốc còn nợ theo lãi suất trong hợp đồng cho vay.

[1.2] Trường hợp Công ty cổ phần Đ thanh toán đầy đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 063/2022-HĐCVHM/NHCT902-MINHVIETCORP ngày 10/08/2022 cho Ngân hàng thương mại cổ phần C thì Ngân hàng thương mại cổ phần C phải trả lại bản chính: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

13

đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T và Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019.

[1.3] Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp của Công ty cổ phần Đ gồm Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại địa chỉ A N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số CG 864834, số vào sổ cấp GCN CS02923 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố C cấp ngày 12/5/2017 cho ông Nguyễn Tuấn T đứng tên người sử dụng đất) và Q sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại địa chỉ Căn hộ C, Chung cư G, khu phố F, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hồ sơ số BY 618173, số vào sổ cấp GCN: CH02693 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/6/2015 cho bà Nguyễn Ngọc Bảo H, đã cập nhật chuyển nhượng cho ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V vào ngày 02/01/2019) để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

[1.4] Trường hợp phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không trả đủ nợ thì bên bảo lãnh là ông Nguyễn Tuấn T, ông Ngô Thanh T1 và bà Trần Thị Như V phải có trách nhiệm trả nợ cho đến khi Công ty cổ phần Đ trả hết nợ theo cam kết tại văn bản bảo lãnh ngày 03/06/2019 và ngày 30/07/2020.

[2] Về án phí:

[2.1] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty cổ phần Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 181.763.310 (Một trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm mười) đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 85.051.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0028361 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

[2.2] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0029361 ngày 30/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nên không phải nộp thêm.

14

Các đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - TAND quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Đoan Trang

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2025/KDTM-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 159/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger