TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2025/HSST
Ngày 06 tháng 11 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nga
Ông Nguyễn Xuân Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Đào Thùy Anh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2025/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2025/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. ĐÀO NGỌC T1; sinh năm 1973; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: Số C ngõ H Đ, phường G, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đào Kim Thành (đã chết) và bà : Nguyễn Thị Q; Bị cáo có 02 con: lớn sinh năm 1994 và nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án tiền sự: 03 tiền sự (ngoài thời hiệu) và 01 tiền án.
- Bản án số 39/2002/HSST ngày 18/03/2002, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội áp dụng khoản 1 điều 138 BLHS, xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng, về tội Trộm cắp tài sản. Nộp án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai số 4773 ngày 15/05/2006. Án tích đã được xóa.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 23/06/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. ĐỖ ĐỨC T2; sinh năm 1989; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú: Số D tổ A, phường L, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đỗ Đức M (đã chết) và bà Trần Thị Tạc
* Nhân thân: Bản án số 538/HSPT ngày 03/06/2016, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 BLHS, xử Miễn trách nhiệm hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 23/06/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Anh Lê Anh Đ, sinh năm 1999;
Nơi ở: P50 C8 G, phường G, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
2. Chị Lê Thanh Tú, sinh năm 2003 ;
Nơi ở : A Khu Tập thể H, phường N, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Đỗ Đức T1 và Đào Ngọc T2 quen biết nhau, đều là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định. Để có tiền tiêu xài và mua ma túy, T1 và T2 rủ nhau cùng đi trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 16/6/2025 đến ngày 23/6/2025, T1 và T2 cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp xe máy, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01h00' ngày 16/6/2025, T1 đến nhà T2 ở C ngõ H Đ, phường N, B, Hà Nội chơi. Tại đây, T1 rủ T2 đi quanh phố xem có ai sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen (không nhớ BKS, do Thạch mượn của bạn không rõ nhân thân lai lịch địa chỉ, T1 đã trả chiếc xe trên cho bạn) chở T2 đi về phía cầu T đường B, sau đó rẽ vào phố Đ rồi đi vào đi vào sân nhà A10 tập thể Học viện Q1, phường N, Hà Nội thì T2 và T2 nhìn thấy 01 (một) chiếc xe Honda Vision, màu đen đỏ, BKS: 34C1-349.66 của chị
Đào Ngọc T1 trộm cắp là 44.975.000đồng (bốn mươi bốn triệu, chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng chẵn).
Đối với chiếc biển kiểm soát: 99H1-036.02, quá trình điều tra xác định là BKS của xe mô tô Honda Airblade, số máy: JF27E0704268, số khung: RLHJF2700BY003117, đăng ký ngày 09/02/2012, tên chủ xe là Hoàng Đình T8 (sinh năm: 1961; nơi cư trú: thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh). Anh T8 trình bày anh T8 mua chiếc xe trên vào khoảng tháng 2/2012, sau đó anh T8 sử dụng được khoảng 5 năm thì anh T8 đã bán lại chiếc xe trên và đã đưa giấy tờ xe cho người mua, do thời gian đã lâu anh T8 không nhớ về thông tin người mua.
Đối với chiếc xe Honda Vision màu trắng, BKS: 29D2-262.93 quá trình điều tra xác định tên chủ đăng ký xe là bà Đỗ Thị H (SN: 1971, nơi cư trú: P, phường G, Thành phố Hà Nội) là mẹ đẻ của anh Lê Anh Đ, bà H đã giao xe cho anh Đ sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc xe trên cho bà H. Bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe Honda Vision màu đen, BKS: 34C1-349.66, quá trình điều tra xác minh tên chủ đăng ký xe là bà Nguyễn Thị T9 (SN: 1983, nơi cư trú: KDC L, phường T, Thành phố Hải Phòng) là mẹ đẻ của chị Lê Thanh T4, bà T9 đã giao xe cho chị T4 làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả chiếc xe trên cho bà T9. Bà T9 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Bản Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 26/9/2025 Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 phạm tội Trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Đào Ngọc T5 từ 24 đến 30 tháng tù, bị cáo Đỗ Đức T2 từ 24 đến 30 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A50S màu xanh; imei: 352049110327070; lắp sim số: 0935432332; 0934258383 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại Redmi note7 màu xanh, số Imei 1: 864753043640555, imei2: 864753045880555 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) BKS: 99H1-036.02; 01 (một) chiếc cờ lê kích thước 40x05cm bằng kim loại, 02 chùm chìa khóa các loại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì về dân sự đối với bị cáo và xin được vắng mặt tại phiên tòa nên không xét.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, Viện Kiểm sát truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 01h ngày 16/6/2025, tại sân nhà A tập thể Học viện Q1, phường N, Thành phố Hà Nội, Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen BKS: 34C1-349.66, trị giá 21.525.000đồng (hai mươi mốt triệu, năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng chẵn) của chị Lê Thanh T4.
Khoảng 01h00 ngày 23/6/2025, tại khu vực số C V, phường N, Thành phố Hà Nội, Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 29D2-262.93, trị giá 23.450.000đồng (hai mươi ba triệu, bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng chẵn) của anh Lê Anh Đ thì bị phát hiện bắt giữ.
Tổng trị giá tài sản Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 trộm cắp là 44.975.000đồng (bốn mươi bốn triệu, chín trăm bảy mươi lăm ngàn đồng chẵn).
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Các bị cáo có ý định phạm tội từ trước. Do lười lao động muốn kiếm tiền nhanh chóng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Các bị cáo nhân thân xấu, đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác đụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để cân nhắc hình phạt khi lượng hình, bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì khác về dân sự. Trong vụ án này, vai trò của các bị cáo là như nhau nên phải chịu mức án tương đương. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52; Có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản phạm tội đã thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Số tiền các bị cáo trộm cắp là 44.975.000 đồng. Hội đồng xét xử xét nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Biện pháp tư pháp:
- Về dân sự: Bị hại anh Lê Anh Đ, chị Lê Thanh T4 đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A50S màu xanh; imei: 352049110327070; có lắp sim đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại Redmi note7 màu xanh, số Imei 1: 864753043640555, imei2: 864753045880555 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) BKS: 99H1-036.02; 01 (một) chiếc cờ lê kích thước 40x05cm bằng kim loại, 02 chùm chìa khóa các loại.
[6] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T5 và Đỗ Đức T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: Đào Ngọc T5 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2025.
Xử phạt: Đỗ Đức T2 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A50S màu xanh; imei: 352049110327070 có lắp sim đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại Redmi note7 màu xanh, số Imei 1: 864753043640555, imei2: 864753045880555 đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) BKS: 99H1-036.02; 01 (một) chiếc cờ lê kích thước 40x05cm bằng kim loại, 02 chùm chìa khóa các loại.
Tang vật trên hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 3/11/2025.
4. Án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 159/2025/HSST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 159/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc Thạch - Đỗ Đức Tiến phạm tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 điều 173, xử phạt hai bị cáo 24 tháng tù mỗi người
