|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 159/2025/HS-ST Ngày: 20-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàng
- Bà Lê Thị Sao
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh P, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: C 100 B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: C A B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (chết) và và Ngô Thị Hồng P1; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Ngày 25/6/2019 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội “Giết người” (bản án số 217/2019/HSST) đến ngày 06/01/2024 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, chưa xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 – Có mặt
Liêu Diệu P2, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 218E L, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liêu Kim T và bà Vương Mai P3; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 – Có mặt
Lai Chí H, sinh năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 360/48 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 3 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T1 và bà Lai Huệ P4; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Ngày 08/7/2022 bị Tòa án nhân dân Quận 6, TP . xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 41/2022/HS-ST), đến ngày 05/06/2024 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, chưa xóa án tích; tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 – Có mặt
Võ Thị Tuyết M, sinh năm 2006 tại Vĩnh Long; thường trú: Số nhà C, tổ D, ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Không nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc V và bà Võ Thị H1; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng con; nhân thân: Ngày 18/3/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 23 giờ ngày 09/8/2024, Nguyễn Thanh P với Liêu Diệu P2, Lai Chí H và C (chưa rõ lai lịch) đến quán “Bia sệt 87” (Cua C) số H Kênh T, quận T để ăn uống. H rủ thêm Võ Thị Tuyết M, Phạm Hồng S (sinh ngày 23/6/2009) và Lê Huỳnh Yến V1 (sinh ngày 24/5/2007) đến ăn uống cùng. Tại đây, P nói với P2 là có đem theo ma túy (ma túy là do P mua trước đó vào ngày 03/8/2024 của một thanh niên tên H, không rõ lai lịch, qua số điện thoại 0923.218.xxx) và rủ P2 cùng sử dụng. Đến khoảng gần 02 giờ ngày 10/8/2024, cả nhóm cùng nhau đến quán “Ốc 2 ly” số A Cầu X, phường T, quận T, để ăn uống tiếp, được một lúc thì C đi về trước. P và P2 rủ M, V1, S và H sử dụng ma túy thì cả nhóm bàn nhau đến quán K tại khu T, quận B để hát và sử dụng ma túy dạng Ketamine, nhưng do sợ không đủ tiền nên cả nhóm không đi và ngồi nhậu được một lúc thì đi về.
Sau đó, P chở P2 về nhà của P tại C đường A B, Phường A, Quận A, nghỉ ngơi, khoảng 05 đến 10 phút sau P liên lạc với H qua ứng dụng Messenger hỏi H đang ở đâu để đến sử dụng ma túy thì H trả lời P là đang ở khách sạn A T đường D, phường S, quận T. Sau đó, P kêu H đưa điện thoại để P nói chuyện với M, khi M nghe máy thì P kêu M rủ S và V1 đến sử dụng ma túy cùng thì M đồng ý. Sau đó, P đặt xe G cầm theo 01 loa nghe nhạc B1 rồi cùng P2 đi đến khách sạn “136 Tình Yêu”, khi đến thì gặp H và M đang đứng trước khách sạn.
Lúc này, P để loa xuống đường và kêu H cầm loa lên sau, lúc này H biết là loa dùng để phục vụ việc sử dụng ma túy còn P và P2 vào thuê Phòng 401 khách sạn “136 Tình Yêu” trước. Sau đó, H cầm loa vào thuê Phòng 404 còn M đặt xe G1 về đón S, V1 đến khách sạn A để sử dụng ma túy và thuê Phòng 301. Tại P, P lấy từ trong túi quần phía sau bên trái ra 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng được gấp lại bên trong chứa ma túy Ketamine mà P đã xào nấu sẵn tại nhà trước đó, đổ một ít lên mu bàn tay trái rồi dùng mũi hít, sử dụng xong P đưa cho P2 sử dụng bằng cách P2 đổ ma túy lên mu bàn tay rồi P2 dùng mũi hít, P2 sử dụng xong thì đưa lại gói ma túy cho P thì P cầm cất vào túi quần phía sau bên trái. Khoảng 10 phút sau, H cầm loa vào Phòng 401, tiếp đó M, V1, S cùng vào Phòng 401. Lúc này, P dùng điện thoại kết nối với loa B2 mở nhạc lên nghe để tăng hứng phấn trong khi sử dụng ma túy và lấy tờ tiền đựng ma túy từ trong túi quần ra đổ một ít lên mu bàn tay trái để sử dụng bằng cách dùng mũi hít, hút xong P đổ ma túy lên mu bàn tay của S, V1 để cả hai sử dụng.
Sau đó, P đưa tờ tiền chứa ma túy cho P2 thì P2 tiếp tục đổ ma túy lên mu bàn tay của M, V1, S cùng sử dụng. Sử dụng xong tất cả nói chuyện nghe nhạc, bấm điện thoại, P thấy vậy không vui nên đòi về nên lúc này cả nhóm ngồi xúm lại với nhau (P2, P, H ngồi chung 01 giường gần cửa chính còn M, V1, S ngồi chung 01 giường gần cửa sổ đối diện với P2, P, H). Lúc này, P2 lấy bật lửa của H đem đến tiếp tục đốt nấu phần ma túy còn lại trong tờ tiền bằng cách dùng bật lửa hơ nóng phía dưới tờ tiền chứa ma túy, nấu xong P2 sử dụng trước rồi đổ ma túy lên mu bàn tay của M, S, V1 sử dụng, H tự lấy ma túy đổ lên mu bán tay sử dụng, P cũng tự lấy ma túy sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy trong tờ tiền thì P quăng tờ tiền xuống nền nhà của Phòng 401. Sau đó H, M, V1, S về phòng đã thuê tại khách sạn “136 T” để nghỉ ngơi, còn P và P2 ngủ lại Phòng 401 cho đến khi Công an vào kiểm tra phát hiện sự việc mời về trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Thanh P, Liêu Diệu P2, Lai Chí H và Võ Thị Tuyết M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Kết luận giám định số 9598/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: “01 tờ tiền mệnh giá 1000 VNĐ được ký hiệu mẫu m cần giám dịnh (đã nêu ở mực II.1) không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết,”.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong số 2941 sau giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Thị H2 (Giám định viên), Lê Nam H3 (Điều tra viên).
- 01 bật lửa;
- 01 cái loa nghe nhạc màu nâu;
Là các dụng cụ Nguyễn Thanh P, Liêu Diệu P2, Lai Chí H và Võ Thị Tuyết M sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh, số Imei 1: 860750042969559; số Imei 2: 860750042969542, là điện thoại di động Liêu Diệu P2 sử dụng để liên lạc cá nhân.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh, số Imei 1: 357680886295623; số Imei 2: 35768088629562, là điện thoại di động Lai Chí H sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh số Imei: 351339416789730, là điện thoại di động Nguyễn Thanh P sử dụng liên lạc và kết nối loa để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh số Imei: 353730392859117, là điện thoại di động Võ Thị Tuyết M sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Các vật chứng còn lại hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 145/PNK ngày 01/3/2025 của Công an Thành phố H.
Tại Bản cáo trạng số: 173/CT-VKSQTP ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P và Lai Chí H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Liêu Diệu P2 và Võ Thị Tuyết M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:
- Áp dụng điểm b, c, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 11 năm đến 12 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, c, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lai Chí H 11 năm đến 12 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Liêu Diệu P2 09 năm đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thị Tuyết M 09 năm đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 10/8/2024 các bị cáo Nguyễn Thanh P, Liêu Diệu P2, Lai Chí H, Võ Thị Tuyết M thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại khách sạn “136 Tình Yêu”, địa chỉ số A đường D, phường S, quận T. Các bị cáo P và H đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, lần phạm tội này của bị cáo P và H thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Các bị cáo P, H, P2 và M đã rủ các đối tượng S và V1 là những người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi tham gia sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo đã tổ chức cho nhiều người cùng tham gia. Do đó hành vi của bị cáo P và H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo P2 và M đã phạm vào tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng truy tố các bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; không những gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo để giáo dục các bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.
Các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng giản đơn, cụ thể là các bị cáo Nguyễn Thanh P và Liêu Diệu P2 cùng nhau thuê phòng, cung cấp địa điểm sử dụng ma túy. Bị cáo P cung cấp ma túy, loa phục vụ cho việc sử dụng ma túy; bị cáo H giúp P mang loa lên phòng và cung cấp bật lửa. Bị cáo M theo yêu cầu của P đã rủ rê và đi đón Phạm Hồng S và Lê Huỳnh Yến V1 (là những người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) đến để cùng sử dụng trái phép ma túy loại Ketamine cùng nhau. Vai trò của bị cáo P nổi trội hơn các bị cáo khác, các bị cáo còn lại thì tích cực giúp sức cùng bị cáo P để sử dụng ma túy. Vì vậy mức hình phạt đối với bị cáo P phải nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.
Đối với Phạm Hồng S và Lê Huỳnh Yến V1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với đối tượng tên H (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0923.218.xxx liên hệ bán ma túy cho bị cáo P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã có công văn gửi Công ty V2 xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đang tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) giao ma túy cho P và C (không rõ lai lịch) đi ăn uống cùng nhóm với P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đang tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại Cơ quan điều tra và trong phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo khi lượng hình.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong số 2941 sau giám định, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Thị H2 (Giám định viên), Lê Nam H3 (Điều tra viên). Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật cấm lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu hủy. Đối với tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bên trong thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 bật lửa. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy
- 01 cái loa nghe nhạc màu nâu. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng cho việc phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh, số Imei 1: 860750042969559; số Imei 2: 860750042969542, là điện thoại di động Liêu Diệu P2 sử dụng để liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo P2.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh, số Imei 1: 357680886295623; số Imei 2: 35768088629562, là điện thoại di động Lai Chí H sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh số Imei: 351339416789730, là điện thoại di động Nguyễn Thanh P sử dụng liên lạc và kết nối loa để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh số Imei: 353730392859117, là điện thoại di động Võ Thị Tuyết M sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: điểm b, c, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 11 (mười một) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
Áp dụng: điểm b, c, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lai Chí H 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Liêu Diệu P2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Thị Tuyết M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024
[2] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 2941 sau giám định có các chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên bên ngoài; 01 bật lửa.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 cái loa nghe nhạc màu nâu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh, số Imei 1: 357680886295623; số Imei 2: 35768088629562; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh số Imei: 351339416789730; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh số Imei: 353730392859117.
- Trả lại cho bị cáo P2: 01 điện thoại di động hiệu Realme C3 màu xanh, số Imei 1: 860750042969559; số Imei 2: 860750042969542, đã qua sử dụng.
(Tất cả các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 145/PNK ngày 01/3/2025 của Công an Thành phố H).
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[5] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 159/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 159/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
