|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2025/HS-ST Ngày: 17/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng; bà Nguyễn Thị Quý Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đắc Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2025/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Ngô Văn N, sinh năm 1978 (Tên gọi khác: Không)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn N1, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Chu Thị H, sinh năm 1947 (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; Có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
2. Vũ Hồng T, sinh năm 1970 (Tên gọi khác: Không)
Nơi cư trú: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 08/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1944; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Ngô Thị T2, sinh năm 1976; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2003;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Chu Quang T4, sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Phạm Quang V, sinh năm 1957; Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
( Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 30/12/2024, tổ công tác Công an thành phố T phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra hành chính kiot của Vũ Hồng T trong chợ chiều khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tại thời điểm kiểm tra có mặt: Vũ Hồng T; Ngô Văn N; Phạm Văn H1 sinh năm 1963, Nguyễn Văn T3 sinh năm 1963, Hoàng Văn H2 sinh năm 1989 cùng trú tại khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Chu Quang T4 sinh năm 1967, trú tại khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện trên ghế nhựa trong ki ôt của T có để 01 tờ giấy ghi số lô, số đề (bảng cáp đề) và 01 bút bi nước màu đen. Thấy có biểu hiện nghi vấn về hành vi mua bán số lô, số đề nên tổ công tác đã thu giữ tờ bảng cáp đề, bút bi nước màu đen và mời T, N, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn H2 và Chu Quang T4 về trụ sở làm việc.
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 tờ giấy ghi số lô, số đề (bảng cáp đề) và 01 bút bi nước màu đen.
- + T tự nguyện giao nộp số tiền 580.000 khi đầu thú.
- + Ngày 04/01/2025, Chu Quang T4, Phạm Văn V1, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn H2 tự nguyện giao nộp số tiền dùng mua số lô, số đề với N, T nhưng chưa thanh toán trong ngày 30/12/2024, cụ thể: T4 nộp 500.000 đồng, V1 nộp 100.000 đồng, Phạm Văn H1 nộp 470.000 đồng, T3 nộp 160.000 đồng, Hoàng Văn H2 nộp 330.000 đồng.
- + Ngày 14/4/2025, T tự nguyện giao nộp tiếp tiền bán số lô, số đề còn lại là 2.145.000 đồng
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Lợi dụng kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền B, khoảng từ đầu tháng 12/2024, N và T thỏa thuận bán số lô, số đề cho những người mua có nhu cầu đánh bạc để kiếm lời. T chuẩn bị bút, giấy để ghi các số lô, số đề đã bán được trong ngày vào bảng cáp đề, rồi nộp lại tiền bán số lô, số đề và bảng cáp đề cho N. N là người tổng hợp bảng cáp đề, không chuyển bảng cáp đề cho ai khác và chịu trách nhiệm thắng thua với người mua số lô, số đề. Số tiền thu được từ người mua số lô, số đề được dùng để chi trả việc ăn tiêu chung của N và T. Đối với số lô, số đề T hoặc N bán riêng không thông báo lại cho nhau biết thì người nào bán sẽ phải chịu trách nhiệm thắng thua riêng đối với người mua số lô, số đề. T bán cho người chơi giá 01 điểm lô từ 22.000 đồng đến 23.000 đồng, số đề (giải nhất và giải đặc biệt) thu 90% hoặc bằng tiền người chơi mua. Việc bán số lô, số đề kết thúc trước giờ mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc hồi 18 giờ 15 phút trong ngày. Việc thanh toán giữa T và những người chơi được thực hiện vào ngày hôm sau và thanh toán bằng tiền mặt.
Hành vi đánh bạc của Ngô Văn N và Vũ Hồng T ngày 30/12/2024 cụ thể như sau:
Khoảng 18h ngày 30/12/2024, Chu Quang T4 đến kiot bán hàng của T và mua của T các số đề dây 02 gồm 08 số (02, 20, 70, 07, 52, 25, 57, 75) mỗi số 5.000 đồng và các số lô 79, 97 mỗi số 10 điểm với giá 23.000 đồng/01 điểm lô. Tổng số tiền lô, đề T bán cho T4 là 500.000 đồng. T và T4 chưa thanh toán với nhau số tiền đánh bạc ngày 30/12/2024.
Khoảng 18h ngày 30/12/2024, Phạm Quang V đến kiot bán hàng của T và mua của T các số lô 29, 30 mỗi số 3 điểm, các số đề 15, 51, 93, 39, 49, 94, 79, 97, 89, 98, 99, 68, 86, 28, 82, 29, 92, 26, 62, 27, 72, 25, 52, 24, 42, 23, 32, 22, 12, 21, 02, 20, 14, 41, 55 mỗi số 10.000 đồng. T thỏa thuận và bán cho V 23.000 đồng/01 điểm lô, tiền đề là 90%. Tổng số tiền T bán số lô, số đề cho V là 488.000 đồng, số tiền theo thỏa thuận là 450.000 đồng.V đã thanh toán cho T 350.000 đồng tiền đánh bạc ngày 30/12/2024, chưa thanh toán 100.000 đồng.
Khoảng hơn 18h ngày 30/12/2024, Phạm Văn H1 đến kiot bán hàng của T và mua của T các số đề 19, 91, 99 mỗi số 50.000 đồng và số lô 33 là 10 điểm. T đồng ý và thỏa thuận bán cho Phạm Văn H1 22.500 đồng/01 điểm lô. Tổng số tiền T bán số lô, số đề cho H1 là 470.000 đồng. H1 và T chưa thanh toán số tiền đánh bạc ngày 30/12/2024.
Khoảng hơn 18h ngày 30/12/2024, Nguyễn Văn T3 đến kiot bán hàng của T và mua của T các số đề 01, 10, 38, 83, 08, 80 mỗi số 5.000 đồng; các số đề đầu 2 gồm 10 số (20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29), đít 2 gồm 10 số (02, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92) mỗi số 5.000 đồng, các số đề 18, 81, 13, 31 mỗi số 5.000 đồng, T đồng ý. Tổng số tiền đề T đã bán cho Thế là 160.000 đồng. T3 và T chưa thanh toán số tiền đánh bạc ngày 30/12/2024.
Khoảng hơn 18h ngày 30/12/2024, Hoàng Văn H2 đến kiot bán hàng của T chơi, do biết Ngô Văn N có bán số lô, số đề nên Hoàng Văn H2 đã mua của N các số đề 13, 23 mỗi số 50.000 đồng, số lô 23 là 10 điểm. N đồng ý và thoản thuận bán cho Hoàng Văn H2 23.000 đồng/01 điểm lô. Tổng số tiền lô, đề N đã bán cho Hoàng Văn H2 là 330.000 đồng. Hoàng Văn H2 và N chưa thanh toán số tiền đánh bạc ngày 30/12/2024. Việc N bán số lô, số đề cho Hoàng Văn H2 thì T không biết và N không nói cho T biết đã bán số lô, số đề cho Hoàng Văn H2.
T khai, khoảng hơn 18h ngày 30/12/2024, Nguyễn Trọng L, sinh năm 1977, trú tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đến kiot bán hàng của T và mua của T các số đề 69, 79 mỗi số 100.000 đồng, các số lô 68, 79 mỗi số 50 điểm, số lô 00 là 30 điểm. T đồng ý và thoản thuận bán cho L 23.000 đồng/01 điểm lô. Tổng số tiền lô, đề T bán cho L là 3.190.000 đồng. Tuy nhiên, T chỉ ghi vào bảng cáp đề các số đề 69, 79 mỗi số 100.000 đồng, các số lô 68, 79 mỗi số 40 điểm, số lô 00 là 20 điểm tương ứng với tổng số tiền là 2.500.000 đồng. Còn số lô 68, 79 mỗi số 10 điểm và số lô 00 là 10 điểm tương ứng với tổng số tiền là 690.000 đồng thì T giữ lại để tính thắng thua riêng với L, không thông báo cho N và N không biết việc này. L và T chưa thanh toán số tiền đánh bạc ngày 30/12/2024.
Trong ngày 30/12/2024, T còn bán nhiều số lô, số đề cho những người qua đường không quen biết (không xác định được họ, tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể) được tổng số tiền đề ở giải đặc biệt là 1.385.000 đồng, tiền đề ở giải nhất là 300.000 đồng, 30 điểm lô (tương ứng với số tiền là 690.000 đồng). Tổng số tiền lô, đề T đã bán cho người không quen biết trong ngày 30/12/2024 là 2.375.000 đồng và những người này đã thanh toán đủ tiền cho T.
Do sự việc bán số lô, số đề của N và T bị phát hiện trước giờ mở thưởng Kết quả xổ số kiến thiết Miền B, nên tổng số tiền đánh bạc chung của T và N trong ngày 30/12/2024 là 6.493.000 đồng. N chịu trách nhiệm chung với T về số lô, số đề T đã bán, ngoài ra N còn đánh bạc riêng với Hoàng Văn H2 với số tiền là 330.000 đồng, nên tổng số tiền đánh bạc của N trong ngày 30/12/2024 là: 6.493.000 đồng + 330.000 đồng = 6.823.000 đồng. T chịu trách nhiệm chung với N về số lô, số đề T đã bán và số lô, số đề đã bán riêng cho Nguyễn Trọng L với số tiền 690.000 đồng, nên tổng số tiền đánh bạc của T trong ngày 30/12/2024 là: 6.493.000 đồng + 690.000 đồng = 7.183.000 đồng.
Cáo trạng số 88A/CT-VKS-TS ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố Ngô Văn N, Vũ Hồng T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều khai nhận các tình tiết của vụ án như đã nêu trên và đều thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo Vũ Hồng T đã tự nguyện nộp số tiền 22.178.000 đồng, bị cáo Ngô Văn N tự nguyện nộp 21.450.000 đồng khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn phân tích lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn N, Vũ Hồng T phạm tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự
Xử phạt Ngô Văn N từ 20 đến 25 triệu đồng sung ngân sách nhà nước
Xử phạt Vũ Hồng T từ 20 đến 25 triệu đồng sung ngân sách nhà nước
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nước màu đen
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.285.000 đồng do Vũ Hồng T, Chu Quang T4, Phạm Quang V, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn H2 nộp.
- - Truy thu số tiền các bị cáo đánh bạc sung ngân sách nhà nước cụ thể:
- + Truy thu của Ngô Văn N số tiền 1.269.000 đồng .
- + Truy thu của Vũ Hồng T số tiền 1.959.000 đồng.
- - Tạm giữ số tiền 21.450.000 đồng của Ngô Văn N đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 và số tiền 22.178.000 đồng của Vũ Hồng T đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn để đảm bảo thi hành án.
Trong phần tranh luận, các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Khi nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản kiểm tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, Ngô Văn N và Vũ Hồng T đã thỏa thuận cùng nhau bán số lô, số đề cho người có nhu cầu mua để đánh bạc được thua bằng tiền. Ngày 30/12/2024, tại kiot của T ở chợ chiều thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T đã bán số lô, số đề cho nhiều người chơi để đánh bạc, trong đó bán cho Chu Quang T4 với số tiền là 500.000 đồng, bán cho Phạm Quang V là 488.000 đồng, bán cho Phạm Văn H1 là 470.000 đồng, bán cho Nguyễn Văn Thế L1 160.000 đồng, bán cho Nguyễn Trọng L là 3.190.000 đồng (T giữ lại số lô, số đề ứng với số tiền 690.000 đồng để đánh bạc riêng với L, không báo lại cho N biết) và bán cho những người không quen biết là 2.375.000 đồng. N đã bán số lô, số đề riêng cho Hoàng Văn H2 là 330.000 đồng, T không biết và N không báo cho T biết việc N bán số lô, số đề cho Hoàng Văn H2. Tổng số tiền dùng để đánh bạc trong ngày 30/12/2024 của Ngô Văn N là 6.823.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc trong ngày 30/12/2024 của Vũ Hồng T là 7.183.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Đánh bạc. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo Ngô Văn N và Vũ Hồng T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ nó đã xâm phạm đến trật tự an toàn và nếp sống văn minh trong xã hội. Đây còn là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có một mức hình phạt để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và đảm bảo được việc răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.
[4] Xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
[4.1] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng thống nhất thỏa thuận bán số lô, số đề cho những người mua có nhu cầu đánh bạc để kiếm lời, tiền thu được từ người mua số lô, số đề được dùng để chi trả việc ăn tiêu chung của N và T. Do vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội các bị cáo đầu thú nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có công ăn việc làm nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về vật chứng vụ án:
[6.1] Đối với 01 bút bi nước màu đen là công cụ, phương tiện các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6.2] Đối với 01 tờ giấy ghi các số lô, số đề ( cáp lô, đề) cơ quan điều tra đã đánh số bút lục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền Vũ Hồng T, Chu Quang T4, Phạm Văn V1, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn H2 tự nguyện giao nộp cụ thể: T nộp 2.725.000 đồng, T4 nộp 500.000 đồng, V1 nộp 100.000 đồng, Phạm Văn H1 nộp 470.000 đồng, T3 nộp 160.000 đồng, Hoàng Văn H2 nộp 330.000 đồng. Đây là tiền sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần buộc các bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước cụ thể:
- + Truy thu của Ngô Văn N số tiền 1.269.000 đồng .
- + Truy thu của Vũ Hồng T số tiền 1.959.000 đồng.
Đối với số tiền 21.450.000 đồng của Ngô Văn N đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 và số tiền 22.178.000 đồng của Vũ Hồng T đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 cuả Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Liên quan trong vụ án có:
[8.1] Đối với Chu Quang T4, Hoàng Văn H2, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3 và Phạm Quang V đã có hành vi đánh bạc với N, T trong ngày 30/12/2024. Do T4, Hoàng Văn H2, Phạm Văn H1, T3 và V chưa có tiền án, tiền sự về tội “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc”, “Đánh bạc” đồng thời số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Công an tỉnh B đã đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chu Quang T4, Hoàng Văn H2, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3 và Phạm Quang V về hành vi “Mua các số lô, số đề” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
[8.2] Đối với Nguyễn Trọng L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập, nhưng đến nay L vẫn vắng mặt tại địa phương, chưa tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau
[9] Đối với những người chơi là khách đến mua số lô, số đề tại kiot của T ngày 30/12/2024, T khai không quen biết, không rõ lai lịch, không nhớ đặc điểm nhận dạng của những người này. Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng chưa có kết quả. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[10 ] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn N, Vũ Hồng T phạm tội “Đánh bạc”
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Ngô Văn N 20.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Xử phạt: Vũ Hồng T 20.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi nước màu đen.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.285.000 đồng do Vũ Hồng T, Chu Quang T4, Phạm Quang V, Phạm Văn H1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn H2 nộp.
- - Truy thu số tiền các bị cáo đánh bạc sung ngân sách nhà nước cụ thể:
- + Truy thu của Ngô Văn N số tiền 1.269.000 đồng .
- + Truy thu của Vũ Hồng T số tiền 1.959.000 đồng.
- - Tạm giữ số tiền 21.450.000 đồng của Ngô Văn N đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 và số tiền 22.178.000 đồng của Vũ Hồng T đã nộp tại biên lai số 0004271 ngày 17/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 159/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 159/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô văn N đánh bạc
