TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2025/DS-ST
Ngày: 16/4/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Soan
- Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1095/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXX – ST ngày 21 tháng 2 năm 2025 (Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐHPT – ST ngày 21/3/2025), giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A
Trụ sở: Q3, TPHCM
Người đại diện ủy quyền: Ông Dương Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Q3, TPHCM
Văn bản ủy quyền số 2188/2024/UQ-TT-XLN ngày 19/11/2024;
Bị đơn: Bà Lưu Thị Minh T, sinh năm 1987
Địa chỉ: quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội
Tạm trú: quận Gò Vấp, TPHCM
(Đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng A và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 22/3/2023 bà Lưu Thị Minh T có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) với Ngân hàng A để yêu cầu cấp hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng. Ngân hàng đã cấp tín dụng với hạn mức 100.000.000 đồng cho bà T theo số thẻ 4364380573, lãi suất áp dụng 2,48%/ tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà T đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền 551.922.407 đồng. Bà T đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 455.948.871 đồng bao gồm các khoản thanh toán như trả phí, lãi, rút tiền mặt, mua hàng hóa của kỳ trước và trong kỳ thanh toán. Số tiền còn lại bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ gốc là 112.031.511 đồng sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn từ ngày 06/02/2024. Tính tới ngày 12/12/2024 bà T còn dư nợ chưa thanh toán bao gồm: Nợ gốc 112.031.511 đồng + 43.238.641 đồng lãi quá hạn (2,48%/ tháng x 150% = 3,72%/ tháng) = 155.270.152 đồng.
Bị đơn là bà Lưu Thị Minh T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và nộp bản tự khai, bảng kê gốc lãi chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm cụ thể như sau:
Nợ gốc 112.031.511 đồng + 60.617.516 đồng lãi quá hạn (2,48%/ tháng x 150% = 3,72%/ tháng) = 172.649.027 đồng.
Yêu cầu bà Lưu Thị Minh T thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời tiếp tục thanh toán lãi phát sinh cho đến khi thi hành án xong theo thỏa thuận của hợp đồng tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Bị đơn vắng mặt không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; Đảm bảo thời hạn xét xử, gửi quyết
định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đúng quy định tại Điều 203, khoản 2 Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng cho đến khi thi hành án xong.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn vay tiền của nguyên đơn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nên xác định giữa bị đơn và nguyên đơn có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản thông qua hình thức cấp tín dụng nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 100 Luật Tổ chức tín dụng năm 2024.
Đối với bị đơn là bà Lưu Thị Minh T, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ về tình trạng cư trú của bị đơn, kết quả thể hiện: “Công dân Lưu Thị Minh T, sinh năm 1987 trước đây có đăng ký tạm trú tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3/2024 trả nhà và không còn ở tại địa chỉ trên”. Điều này cho thấy người khởi kiện cung cấp đầy đủ, đúng địa chỉ cư trú của người bị kiện nhưng người bị kiện thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định pháp luật về cư trú. Thể hiện mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ của bị đơn. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại nơi cư trú cuối cùng là quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, điều này phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý đến khi xét xử nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đương sự không
đến tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự khai, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ cá nhân và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở để khẳng định: Nguyên đơn có cấp tín dụng cho bị đơn với hạn mức 100.000.000 đồng để tiêu dùng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến thời điểm xét xử bị đơn còn dư nợ như sau: Nợ gốc 112.031.511 đồng + 60.617.516 đồng lãi quá hạn (2,48%/ tháng x 150% = 3,72%/ tháng) = 172.649.027 đồng.
Xét thấy, nguyên đơn đã tính đúng về nợ gốc và lãi, nội dung yêu cầu của nguyên đơn được các bên tự nguyện thỏa thuận tại Bảng điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A. Chủ thể ký kết nội dung và hình thức giao kết phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bên phải thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi, phí theo thỏa thuận giữa hai bên được ký kết trong hợp đồng tính từ thời điểm xét xử cho đến khi thi hành án xong.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật phí và lệ phí và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là bà Lưu Thị Minh T.
Bà Lưu Thị Minh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền 172.649.027 đồng. Trong đó, nợ gốc 112.031.511 đồng + 60.617.516 đồng lãi quá hạn.
Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lưu Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.632.451 đồng (tám triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn bốn trăm năm mươi mốt đồng).
Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng A là 3.440.330 đồng (ba triệu, bốn trăm bốn mươi ngàn, ba trăm ba mươi đồng) theo biên lai thu số 0014793, ký hiệu BLTU/23P ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo và kháng nghị bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Tứ Nhị |
Bản án số 159/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 159/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: 1/. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là bà Lưu Thị Minh T. Bà Lưu Thị Minh T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền 172.649.027 đồng. Bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. 2/ Án phí dân sự sơ thẩm: - Bà Lưu Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.632.451 đồng - Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng A là 3.440.330 đồng theo biên lai thu số 0014793, ký hiệu BLTU/23P ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
