|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2025/DS-PT Ngày: 04-04-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng
Bà Võ Bích Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 04 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 578/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và hợp đồng vay tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 179/2024/DSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 54/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Kha Phương T, sinh năm 2001.; Địa chỉ: Số A tổ E, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
- - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ (Văn bản uỷ quyền ngày 27/8/2024). Có mặt
- - Bị đơn: Ông Lê Quốc H, sinh năm 1980; Địa chỉ thường trú: Số B đường số D, khu dân cư L, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ liên hệ: B đường N, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Văn phòng C
Địa chỉ: Số B đường N, khu dân cư I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đề nghị xét xử vắng mặt
- Bà Lê Thúy V, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số C đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
-
Ông Cao Văn H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số A khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- - Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1983; Địa chỉ: B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Hợp đồng ủy quyền ngày 02/10/2024). Có mặt
-
Văn phòng C1
Địa chỉ: Số A đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
- Bà Lê Thị Thu T2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số A khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
-
Văn phòng C
- - Người kháng cáo: Ông Cao Văn H1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khơi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà T là chủ sử dụng của thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, có diện tích 2.000m², toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Ngày 23/02/2023, bà T có vay số tiền 360.000.000₫ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng) của ông Lê Quốc H, hai bên thoả thuận lãi suất là 2%/tháng. Tuy nhiên, tại thời điểm vay tiền ông H yêu cầu phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H để đảm bảo khoản vay trên. Sau đó, bà và ông H lập Vi bằng với nhau vào ngày 24/02/2023, theo đó có nội dung bà T chỉ vay số tiền này của ông H và khi có đủ tiền thì có quyền xin chuộc lại phần đất trên.
Đến cuối năm 2023, bà T có nhu cầu chuộc lại đất theo thoả thuận ban đầu, phía ông H trốn tránh và trong khoảng thời gian này đã lén lút chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 463 cho ông Cao Văn H1. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/02/2023 giữa bà với ông Lê Quốc H về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, đất toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ, được công chứng tại Văn phòng C; Bà T thống nhất trả lại cho ông H số tiền là 368.000.000₫ (Ba trăm sáu mươi tám triệu đồng), trong đó gồm 360.000.000đ tiền gốc và 8.000.000đ tiền lãi; Yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2023 giữa ông Lê Quốc H, bà Lê Thúy V với ông Cao Văn H1 về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, hậu quả của hợp đồng vô hiệu này giữa ông H, bà V với ông H1 tự giải quyết với nhau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H1 trình bày:
Trước đây khoảng tháng 7 năm 2023, thông qua môi giới ông có gặp ông Lê Quốc H, thời điểm này ông H nói cần vay số tiền khoảng 1.000.000.000₫ sau khi thoả thuận thống nhất thì ông cho ông H vay số tiền 1.000.000.000₫ với lãi suất là 3%/tháng, ông H với ông ký chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1. Sau đó, ông H có đóng lãi cho ông được 02 (hai) tháng thì ngưng, lúc này ông H nói không có khả năng đóng lãi nữa nên có gặp ông thoả thuận chuyển nhượng luôn thửa đất này, ông đồng ý và ông H kêu ông đưa thêm số tiền là 200.000.000đ, giữa ông với ông H ký huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập tháng 6 năm 2023 và ký lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2023 với giá là 1.200.000.000đ, ông đã đưa thêm cho ông H số tiền 200.000.000₫ đúng với giá chuyển nhượng. Lúc đầu phía môi giới chỉ cho ông phần đất ở một vị trí khác, nhưng sau đó ông mới biết được phần đất chuyển nhượng không phải mà ở phía bên trong.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T trong vụ án thì ông không đồng ý, do phần đất tranh chấp này ông nhận chuyển nhượng từ ông H đã được công chứng theo quy định và ông đã làm thủ tục cập nhật, chỉnh lý sang tên quyền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp phía bà T muốn chuộc lại phần đất này thì ông đồng ý cho chuộc lại với số tiền là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) và trả lãi cho ông từ tháng 11 năm 2023 đến nay theo mức lãi suất là 1%/tháng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kha Phương T.
- - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/02/2023, giữa bên chuyển nhượng là bà Kha Phương T với bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Quốc H, về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH000430 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 05/7/2010, được công chứng tại Văn phòng C, là vô hiệu.
- - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2023, giữa bên chuyển nhượng là ông Lê Quốc H, bà Lê Thúy V với bên nhận chuyển nhượng là ông Cao Văn H1, về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH000430 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 05/7/2010, được công chứng tại Văn phòng C1, là vô hiệu.
- - Buộc nguyên đơn bà Kha Phương T có nghĩa vụ trả cho bị đơn ông Lê Quốc H tổng số tiền là 420.120.000đ (Bốn trăm hai mươi triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 360.000.000₫ và số tiền lãi là 60.120.000đ.
- Kể từ ngày bị đơn ông Lê Quốc H có đơn yêu cầu thi hành án mà nguyên đơn bà Kha Phương T chưa thi hành án thì bà T còn có nghĩa vụ trả lãi chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- - Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn H1 có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn bà Kha Phương T bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH000430 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 05/7/2010 (chỉnh lý biến động ngày 28/10/2019, ngày 21/6/2022, ngày 07/3/2023 và ngày 29/12/2023), của thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Nguyên đơn bà Kha Phương T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký, chỉnh lý để được cấp lại quyền sử dụng đất thửa số 463, tờ bản đồ số 17 và chịu các khoản phí, lệ phí có liên quan.
- Trường hợp trong giai đoạn thi hành án, ông Cao Văn H1 không thi hành nghĩa vụ giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH000430 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 05/7/2010 (chỉnh lý biến động ngày 28/10/2019, ngày 21/6/2022, ngày 07/3/2023 và ngày 29/12/2023), của thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ, để giao trả cho bà T thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH000430 do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 05/7/2010, làm thủ tục cấp lại quyền sử dụng đất thửa số 463, tờ bản đồ số 17 cho bà K Phương Thuỳ theo nội dung quyết định của bản án.
- - Tách số tiền mà ông Cao Văn H1 trả cho ông Lê Quốc H liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 463, tờ bản đồ số 17, lập ngày 09/11/2023, thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Cao Văn H1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng yêu cầu bà T giữ lại số tiền 420.120.000đ, chờ ông khởi kiện ông H, bà V, sau khi ông nộp đơn yêu cầu thi hành án xong thì bà T mới nộp tiền vào cơ quan thi hành án, sau đó ông H1 trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn H1.
- - Người đại diện hợp pháp của ông H1 và ông H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H1.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đương sự và Tòa án các cấp thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo là có căn cứ. Ông H1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Cao Văn H1 làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 tham gia phiên tòa hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
-
Về nội dung vụ án và kháng cáo của ông Cao Văn H1.
- Bản án sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/02/2023, giữa bên chuyển nhượng là bà Kha Phương T với bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Quốc H, về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, là vô hiệu; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2023, giữa bên chuyển nhượng là ông Lê Quốc H, bà Lê Thúy V với bên nhận chuyển nhượng là ông Cao Văn H1, về việc chuyển nhượng thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17, là vô hiệu. Đồng thời giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa bà T với ông H. Đối với hậu quả liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 463, tờ bản đồ số 17, lập ngày 09/11/2023, được tách thành vụ án khác khi có yêu cầu. Các đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị về phần này nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời thời gian kháng cáo, kháng nghị.
-
Xét kháng cáo của ông Cao Văn H1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Cao Văn H1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng yêu cầu bà T giữ lại số tiền 420.120.000đ, chờ ông khởi kiện ông H, bà V, sau khi ông nộp đơn yêu cầu thi hành án xong thì bà T mới nộp tiền vào cơ quan thi hành án, sau đó ông H1 trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bản án dân sự được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014. Do đó, ông H1 có quyền thỏa thuận với bà T trong quá trình thi hành án, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H1.
- Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không chấp nhận kháng cáo của ông H1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: Ông H1 kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không Chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn H1.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
-
Về án phí phúc thẩm:
Ông Cao Văn H1 phải chịu 300.000₫ được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003760 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 159/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng cnqsd đất và hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 159/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng CNQSD đất và hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
