Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2025/DS-PT

Ngày: 17/03/2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng đặt

chỗ giao dịch bất động sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Chí Anh;

Các Thẩm phán: Đinh Như Lâm;

Đỗ Minh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Phạm Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân hành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Bách Thiện Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2025/TLPT–DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 239/2024/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 85/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 03 năm 2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1968

Địa chỉ: Số C H, H, quận L, Thành phố Đà Nẵng. – Có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần K1

Địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Thành V, bà Nguyễn Thị Thanh H1, ông Vũ Nghị L, bà Cao Thị Ngọc M, bà Cấn Thị Quỳnh A – Cán bộ pháp chế Công ty cổ phần K1 (Theo Giấy ủy quyền số 42/2024/GUQ-KSHOMES PLUS ngày 11/10/2024). – Bà H1 có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Cổ phần Đ;

Địa chỉ: Tầng G Tòa nhà S, A P, phường M, quận N, TP Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Thành L1 – Chức vụ: Tổng giám đốc.

2. Công ty Cổ phần T1 (Nay là Công ty Cổ phần T1).

Địa chỉ: Tầng I tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trà M1, ông Nguyễn Văn K, ông Phạm Đình L2, bà Thiều Thị H2 – Cán bộ pháp chế của Công ty cổ phần T2 (Theo văn bản ủy quyền số 79/2024/UQ-SSGD ngày 16/10/2024 của Công ty cổ phần T2). Ông L2 có mặt.

Người kháng cáo: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/08/2022, bà Bùi Thị D và Công ty Cổ phần K1 ký kết Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00015000, với thông tin về khoản bảo đảm như sau:

  • Giá trị khoản bảo đảm: 500.000.000 đồng;
  • Thời hạn đặt mua áp dụng với khoản bảo đảm là 07 tháng từ ngày 18/08/2022 đến ngày 20/03/2023;
  • Lợi ích được hưởng tính trên khoản bảo đảm là 9.00%/năm

Để thực hiện Hợp đồng, theo sự chỉ dẫn của nhân viên Công ty Cổ phần K1 trong các ngày 17/08/2022 và ngày 18/08/2022 tôi D đã thực hiện nộp 500.000.000 đồng vào tài khoản của Công ty Cổ phần Đ. Việc giao dịch nộp tiền được thể hiện tại Giấy nộp tiền và Uỷ nhiệm chi mã GCV 474441. Hoàn thành giao dịch nộp tiền, tôi đã được Công ty Cổ phần K1 cấp Giấy chứng nhận bà D là nhà đầu tư đối với dự án Sunshine F Ha Noi số CSFH00015000 ngày 18/8/2022. Ngày 18/08/2022, Công ty Cổ phần T1 phát hành Thư bảo lãnh để đảm bảo cho việc bảo lãnh không huỷ ngang cho nghĩa vụ của Công ty Cổ phần K1 và Thư bảo lãnh để đảm bảo cho việc bảo lãnh không huỷ ngang của Công ty Cổ phần Đ.

Do tôi cần tiền để giải quyết việc cấp bách nên tôi có nhu cầu muốn rút số tiền đã đầu tư trước thời hạn đặt mua. Các nhân viên đã hướng dẫn tôi cài ứng dụng phần mềm có tên KSFinance để rút tiền. Tuy nhiên, tôi chỉ rút được 273.000.000 đồng, còn lại 220.000.000 đồng và tiền lợi nhuận đến thời điểm hiện tại tôi chưa nhận được. Tôi đã nhiều lần liên hệ với Công ty Cổ phần K1 nhưng vẫn không nhận được phản hồi.

Vì vậy tôi đề nghị Toà án quận N xem xét, giải quyết các vấn đề sau đối với bị đơn:

  • Buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán tổng số tiền nợ gốc là 220.000.000 đồng – Số tiền này đã trừ 2,5% giá trị khoản bảo đảm theo khoản 5 Phụ lục 1 của Hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản số CSFH00015000 ngày 18/08/2022;
  • Buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán phần lợi ích cố định (Lợi ích 9%/năm từ ngày 18/8/2022 đến ngày 20/3/2023) và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (Lãi suất 9%/năm từ ngày 21/3/2023) tạm tính đến ngày 16/07/2024 là 42.529.315 đồng;
  • Tổng số tiền tiền gốc, tiền lợi ích cố định và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính đến ngày 16/07/2024 là 262.529.315 đồng;
  • Trường hợp Công ty Cổ phần K1 không trả được các khoản tiền nêu trên thì yêu cầu Toà án buộc Công ty Cổ phần T1 (nay là Công ty Cổ phần T1) thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán toàn bộ khoản tiền gốc, khoản lợi ích cố định và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 262.529.315 đồng cho bà Bùi Thị D.

Người Đại diện theo ủy quyền của bị đơn – Công ty cổ phần K2 trình bày:

Năm 2022, Công ty Cổ phần K1 và bà Bùi Thị D có thoả thuận ký kết Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản với các nội dung cơ bản như sau:

  • Mục đích: bà Bùi Thị D chấp nhận sử dụng dịch vụ tư vấn, môi giới và thu xếp không độc quyền nhằm mục đích bà D có thể đặt mua/thuê bất động sản của dự án theo quy định của pháp luật và thoả thuận của các bên tại hợp đồng.
  • Để đảm bảo cho việc (i) thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của mình tại hợp đồng và (1) chứng minh năng lực tài chính của bà Bùi Thị D khi chủ đầu tư/bên chuyển nhượng thông báo ký hợp đồng giao dịch bất động sản bà Bùi Thị D đồng ý đặt cọc cho Công ty Cổ phần K1 một khoản tiền.
  • Trường hợp kết thúc thời hạn mà bà D không nhận được thông báo về việc ký kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư/bên chuyển nhượng; hoặc đã nhận được thông báo nhưng không đồng ý giao kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư, hợp đồng dịch vụ đặt mua sẽ chấm dứt kể từ thời điểm kết thúc thời hạn. Khoản tiền bảo đảm đặt mua cùng toàn bộ lợi ích còn lại mà bà D được hưởng sau khi trừ các khoản khấu trừ (nếu có) theo hợp đồng đặt mua sẽ được Công ty Cổ phần K1 hoàn lại cho bà D vào ngày hợp đồng đặt mua chấm dứt.

Thực hiện hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản nêu trên, Công ty Cổ phần K1 đã nhận các khoản tiền bảo đảm đặt mua của bà D với số tiền, thời gian cụ thể như sau:

Bảng kê các Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản

giữa bà Bùi Thị D với Công ty Cổ phần K1

ST T Ngày xác lập giao dịch Ngày đến hạn Số hợp đồng Khoản tiền Bảo đảm ban đầu (VNĐ) Khoản tiền bảo đảm còn lại (VNĐ) Lợi ích cố định (%)
1 18/8/2022 20/3/2023 CSFH00015000 500.000.000 220.000.000 9.00
2 Tổng 220.000.000

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Quý IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng, chính sách siết chặt tín dụng của các ngân hàng đã khiến cho các công ty bất động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng Công ty Cổ phần K1 và các chủ đầu tư dự án bất động sản mà Công ty Cổ phần K1 có quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của Công ty Cổ phần K1.

Do đó, khi đến hạn hoàn trả giá trị khoản tiền bảo đảm đặt mua và lợi ích cố định theo hợp đồng đã ký kết, Công ty Cổ phần K1 chưa có khả năng thanh toán ngay cho bà Bùi Thị D theo đúng thoả thuận.

Khi phát sinh vấn đề trên, Công ty Cổ phần K1 đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với bà Bùi Thị D để tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, Công ty Cổ phần K1 cũng đã hết sức nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo đảm quyền lợi của khách hàng. Cụ thể, trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã đề xuất khách hàng cảm thông và xem xét các phương án giải quyết như sau:

  1. Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty có thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời khách hàng sẽ được nhận thêm một khoản lợi nhuận bổ sung theo thoả thuận của các bên.
  2. Chuyển đổi giá trị khoản tiền đầu tư sang thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine G, Sunshine G, Sunshine S, Sunshine D, Sunshine Capital Tây T, S, S, Sunshine P, ...

Tuy nhiên đến nay, nguyên đơn và Công ty Cổ phần K1 vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. Chúng tôi vẫn nỗ lực và thiện chí mong muốn thương lượng, hoà giải để tìm được tiếng nói chung với nguyên đơn trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả hai bên.

Người Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T1 trình bày:

Công ty Cổ phần T1 xác nhận có phát hành Thư bảo lãnh ngày 18/08/2022 để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty Cổ phần K1 phát sinh từ Hợp đồng đặt mua số CSFH00015000 ngày 18/8/2022.

1. Về hiệu lực bảo lãnh: Theo khoản 2 của 2 Thư bảo lãnh quy định: “Bảo lãnh có hiệu lực kể từ ngày phát hành và hết hạn khi phát sinh một trong các sự kiện được liệt kê dưới dây, tuỳ thuộc vào sự kiện nào xảy ra trước: “50 ngày kể từ ngày hết thời hạn đầu tư theo Hợp đồng đặt mua ...”

Khoản 3 của 02 Thư bảo lãnh quy định: “Hết thời hạn nêu trên, bảo lãnh sẽ tự động hết hiệu lực.”

2. Về điều kiện bảo lãnh: Căn cứ theo khoản 3 Thư bảo lãnh, Công ty Cổ phần T1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi và chỉ khi Bên nhận bảo lãnh đáp ứng các điều kiện, bao gồm:

  • Yêu cầu thanh toán liên quan đến bảo lãnh được ký hợp lệ bởi Bên nhận bảo lãnh;
  • Cung cấp bản gốc Thư bảo lãnh và bản sao Hợp đồng đặt mua;
  • Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và hồ sơ được gửi tới và nhận bởi Công ty Cổ phần T1 trước hoặc vào ngày hết hạn.

Căn cứ hồ sơ sao chụp tại Toà án, trong thời gian Thư bảo lãnh còn hiệu lực (từ ngày 18/8/2022 đến ngày 09/5/2023), Công ty Cổ phần T1 không nhận được hồ sơ yêu cầu thanh toán được quy định tại khoản 3 Thư bảo lãnh của bà Bùi Thị D. Đến nay, Thư bảo lãnh ngày 18/8/2022 đã hết hiệu lực, nghĩa vụ bảo lãnh của Công ty Cổ phần T1 đã chấm dứt, các bên không có văn bản gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 239/2024/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị D đối với Công ty Cổ phần K1 về việc Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản số CSFH00015000 ngày 18/08/2022.
  2. Buộc Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho bà Bùi Thị D số tiền gốc của Hợp đồng CSFH00015000 tính đến ngày xét xử 21/11/2024 là 220.000.000 đồng.
  3. Buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán phần lợi ích cố định (Lợi ích 9%/năm từ ngày 18/8/2022 đến ngày 20/3/2023) và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (Lãi suất 9%/năm từ ngày 21/3/2023) tính đến ngày xét xử (Ngày 21/11/2024) là 44.807.671 đồng.

Tổng số tiền Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho bà Bùi Thị D là 264.807.671 đồng (Hai trăm sáu mươi tư triệu tám trăm linh bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng).

  1. Dành quyền khởi kiện cho Công ty Cổ phần K1 bằng vụ án dân sự khác nếu giữa hai Công ty Cổ phần K1 và Công ty Cổ phần Đ nếu có xảy ra tranh chấp giữa 1 bên ký hợp đồng và 1 bên nhận tiền.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi trên dư nợ gốc tính từ ngày 22/11/2024 theo mức 9.00%/năm.
  3. Trường hợp Công ty Cổ phần K1 không thanh toán được số tiền 264.807.671 đồng cho bà Bùi Thị D thì Công ty Cổ phần T1 phải thanh toán toàn bộ số tiền 264.807.671 đồng cho bà D.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 26/11/2024, TAND quận Nam Từ Liêm nhận được đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty cổ phần T1 (đề ngày 08/7/2024) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 239/2024/DS-ST ngày 21/11/2024 của TAND quận Nam Từ Liêm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn không có mặt.
  • Bị đơn không có ý kiến.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ, đưa ra yêu cầu mới và giữ nguyên lời khai đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm, cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

  • Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần T1;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 239/2024/DS-ST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm về cách tuyên theo hướng: Buộc Công ty Cổ phần K2 phải thanh toán cho bà Bùi Thị D số tiền tạm tính đến ngày xét xử 21/11/2024 là 264.807.671 đồng. Trường hợp Công ty Cổ phần K2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty Cổ phần T1 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (trả tiền thay) cho Công ty Cổ phần K2...

Về án phí:

  • Án phí dân sự sơ thẩm: Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về việc Công ty K2 phải chịu 13.240.383 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa và người tham gia tố tụng về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

  • Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Công ty T1 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do đó việc kháng cáo là hợp lệ về hình thức.

[2]. Xét kháng cáo của Công ty T1, Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1. Về Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00015000 ngày 18/8/2022:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và lời khai của các đương sự tại toà án thể hiện: Ngày 18/08/2022, bà Bùi Thị D và Công ty Cổ phần K1 ký kết hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản số CSFH00015000 với thông tin về khoản bảo đảm như sau:

  • Giá trị khoản bảo đảm: 500.000.000 đồng;
  • Thời hạn đặt mua áp dụng với khoản bảo đảm là 07 tháng từ ngày 18/08/2022 đến ngày 20/03/2023;
  • Lợi ích được hưởng tính trên khoản bảo đảm là 9.00%/năm.

Xét thấy: về nội dung và hình thức của hợp đồng trên phù hợp với quy định của pháp luật; các bên đều tự nguyện giao kết, không bị lừa dối, cưỡng ép, khi ký Hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ Điều 117 Bộ luật dân sự, Hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản có giá trị pháp lý và các bên cần tuân thủ thực hiện.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngày 17/08/2022 và ngày 18/08/2022, bà Bùi Thị D đã chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần K1. Do bà D cần tiền giải quyết việc cấp bách nên có nhu cầu rút số tiền đã đầu tư. Làm theo hướng dẫn của nhân viên công ty Đ, bà D chỉ rút được 273.000.000 đồng, còn lại 220.000.000 đồng và tiền lợi nhuận đến hiện tại vẫn chưa nhận được. Bà D đã nhiều lần liên hệ để được nhận số tiền gốc còn lại và lãi theo thỏa thuận nhưng không nhận được phản hồi. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án Công ty Cổ phần K1 đã thừa nhận số nợ gốc còn lại, số tiền lợi nhuận phải thanh toán và đề xuất các phương án giải quyết với bà D. Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định Công ty Cổ phần K3 đã vi phạm thỏa thuận của hợp đồng và có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và tiền lợi ích cố định là có căn cứ nên được chấp nhận.

2.2. Về nghĩa vụ bảo lãnh.

Căn cứ Thư bảo lãnh ngày 18/08/2022 của Công ty Cổ phần T1 với bà Bùi Thị D nội dung bảo lãnh không hủy ngang cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh phát sinh từ hợp đồng đặt mua; phạm vi bảo lãnh: Các nghĩa vụ thanh toán của bên được bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh phát sinh từ hợp đồng đặt mua; Bảo lãnh này có hiệu lực kể từ ngày phát hành và hết hạn khi phát sinh một trong các sự kiện được liệt kê dưới đây tùy thuộc sự kiện nào xảy ra trước: 50 ngày kể từ ngày hết thời hạn đầu tư theo hợp đồng đặt mua hoặc sau khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh đã được thực hiện hoặc giải trừ đầy đủ.

Xét thấy: việc Công ty Cổ phần T1 phát hành thư bảo lãnh với nội dung nêu trên là không trái với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự 2015, thư bảo lãnh có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ bảo lãnh của Công ty Cổ phần T1 là đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, Công ty Cổ phần T1 kháng cáo cho rằng trong thời hạn bảo lãnh nguyên đơn không có văn bản yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nay đã hết hạn bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ. Hội đồng xét xử xét thấy: theo quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015, nghĩa vụ bảo lãnh của Công ty T1 phát sinh khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần T1.

[3] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí:

Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty Cổ phần T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án 239/2024/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;

- Căn cứ các Điều: 280, 335, 357, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị D đối với Công ty Cổ phần K1 về việc Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản số CSFH00015000 ngày 18/08/2022.

  • Buộc Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho bà Bùi Thị D số tiền gốc của Hợp đồng CSFH00015000 tính đến ngày xét xử 21/11/2024 là 220.000.000 đồng.
  • Buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán phần lợi ích cố định (Lợi ích 9%/năm từ ngày 18/8/2022 đến ngày 20/3/2023) và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (Lãi suất 9%/năm từ ngày 21/3/2023) tính đến ngày xét xử (Ngày 21/11/2024) là 44.807.671 đồng.

Tổng số tiền Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho bà Bùi Thị D là 264.807.671 đồng (Hai trăm sáu mươi tư triệu tám trăm linh bảy nghìn sáu trăm bảy mươi mốt đồng).

2. Dành quyền khởi kiện cho Công ty Cổ phần K1 bằng vụ án dân sự khác nếu giữa hai Công ty Cổ phần K1 và Công ty Cổ phần Đ nếu có xảy ra tranh chấp giữa 1 bên ký hợp đồng và 1 bên nhận tiền.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi trên dư nợ gốc tính từ ngày 22/11/2024 theo mức 9.00%/năm.

4. Trường hợp Công ty Cổ phần K1 không thanh toán được số tiền 264.807.671 đồng cho bà Bùi Thị D thì Công ty Cổ phần T1 phải thanh toán toàn bộ số tiền 264.807.671 đồng cho bà D.

5. Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần K1 là bị đơn phải chịu 13.240.383 đồng (Mười ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn ba trăm tám mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Bùi Thị D 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0028064 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.

6. Về án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần T1 là người kháng cáo phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Công ty Cổ phần T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0027754 ngày 10/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm được đối trừ vào số tiền án phi dân sự phúc thẩm đã nộp.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TP Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Cục THA DS quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Chí Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản

  • Số bản án: 159/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt chỗ giao dịch bất động sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác Dung - KS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger