TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 159/2024/DS-ST Ngày: 12 - 9 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 92/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1286/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H H Việt Nam (MSB)
Địa chỉ trụ sở chính: Số 54A, Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Thượng. Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên lạc: Tầng 23, Tòa nhà TNR, số 180-192 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L, Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Xuân H, chức vụ: Chuyên viên, ông Võ Minh Thuần, chức vụ: Giám đốc XLN KHCN (Theo văn bản ủy số 1341/2024/UQ-TGD912 ngày 26/02/2024).
- Bị đơn:
1/ Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1971
2/ Bà Vũ Thị Ánh T1, sinh năm 1978
Địa chỉ: Số 234/2/11, khu phố 5, phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Ông H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP H H Việt Nam do ông Đàm Xuân H đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 26/7/2022, giữa Ngân hàng TMCP H H Việt Nam với ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 có ký đơn Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay số HĐ số: 19-TBI/2022/HĐCV cho vay số tiền 490.000.000đồng; Mục đích vay: tiêu dùng; Thời hạn vay: 36 tháng; Lãi suất cho vay 19,5%/năm, lãi suất quá hạn 150%. Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà T1 vào sổ tài khoản 25001012991470 của bà Vũ Thị Ánh T1 với số tiền 490.000.000đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tính đến 12/9/2024, ông T, bà T1 còn nợ Ngân Hàng với tổng số tiền là: 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng), trong đó: Nợ gốc: 264.812.075 đồng; Nợ lãi : 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.830.089đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn cho Ngân hàng. Buộc ông T, bà T1 phải thanh toán nợ lãi trên số nợ gốc được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số HĐ số: 19-TBI/2022/HĐCV ngày 26/7/2022, kể từ ngày 13/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam buộc bị đơn phải thanh toán khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo hợp đồng cho vay các bên đã ký kết là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 vay tiền của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam với mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 đầy đủ. Qua xác minh được biết ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 không còn sinh sống tại địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Xét thấy, có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo. Theo đơn yêu cầu của nguyên đơn về việc thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 là bị đơn trong vụ án. Tuy nhiên, ông T, bà T1 vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện nguyên đơn ông Đàm Xuân H có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Việc trình bày ý kiến và cung cấp chứng cứ để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự nhưng do ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 cố tình không đến Tòa làm việc, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì mặc nhiên ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 thừa nhận là có vay tiền của Ngân hàng theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án chỉ có thể căn cứ trên lời trình bày và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam về việc buộc ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 có nghĩa vụ trả số tiền là 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng); trong đó: Nợ gốc : 264.812.075 đồng; Nợ lãi : 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn : 10.830.089đồng, thì thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số: 19-TBI/2022/HĐCV ngày 26/7/2022; Lệnh chuyển khoản; bảng kê chi tiết số tiền gốc và tiền lãi ông T, bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng thể hiện T, bà T1 đã nhận đủ số tiền đã vay. Tính đến ngày 12/9/2024, ông T, bà T1 còn nợ của Ngân hàng số tiền là 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng); trong đó: Nợ gốc: 264.812.075đồng; Nợ lãi: 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.830.089đồng. Số tiền trên đến nay ông T, bà T1 không thanh toán là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết. Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi quá hạn là có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, buộc ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Viết Nam số tiền là 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng); trong đó: Nợ gốc: 264.812.075đồng; Nợ lãi: 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.830.089đồng.
[4] Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nguyên đơn đã nộp 15.000.000đồng chi phí thu thập tài liệu chứng cứ, đăng trên cổng thông tin đại chúng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam được chấp nhận, nên ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP H H Việt Nam chi phí thu thập tài liệu chứng cứ, đăng trên cổng thông tin đại chúng là 15.000.000đồng.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP H H Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thâm theo quy định pháp luật.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 470, Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam đối với ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- - Buộc ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP H H Việt Nam số tiền là 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng); trong đó: Nợ gốc: 264.812.075 đồng; Nợ lãi: 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.830.089 đồng.
- - Kể từ ngày 13/9/2024, ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 19-TBI/2022/HĐCV ngày 26/7/2022 ngày 26/7/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H H Việt Nam số tiền chi phí thu thập tài liệu chứng cứ, đăng trên cổng thông tin đại chúng là 15.000.000đồng.
3. Về án phí:
- - Ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 phải chịu 18.397.705đồng (Mười tám triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm L năm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H H Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.705.000đồng (Chín triệu bảy trăm L năm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002143 ngày 16/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
4. Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hải |
Bản án số 159/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 159/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H H Việt Nam đối với ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. - Buộc ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị Ánh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP H H Việt Nam số tiền là 367.954.105 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn một trăm L năm đồng); trong đó: Nợ gốc: 264.812.075 đồng; Nợ lãi: 92.311.941 đồng; Nợ lãi quá hạn: 10.830.089đồng. - Kể từ ngày 13/9/2024, ông Phạm Văn T bà Vũ Thị Ánh T1 còn phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 19-TBI/2022/HĐCV ngày 26/7/2022 ngày 26/7/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
