Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HSST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long

- Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Hoàng Văn Long

2, Ông Nguyễn Văn Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Hồng K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1969, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số C, Lương Ngọc Q, H, H, Hà Nội; Nơi cư trú: số A ngõ B, phố L, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/10;

Họ tên cha: Đoàn Văn K1 (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị T (đã chết), Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ sáu; Tiền án, tiền sự: 07 tiền án:

  • Ngày 30/8/1990, bị Toà án nhân dân Quận H, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 229/1990/ HSST) – chưa xóa án tích;
  • Ngày 13/6/1992, bị Toà án nhân dân quận H1, Hà Nội xử phạt 9 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 199/1992/ HSST) – chưa xóa án tích;
  • Ngày 28/8/1993, Toà án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 631/1993/ HSST) – chưa xóa án tích;
  • Ngày 25/6/1996,Toà án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 612/1996/ HSST) – chưa xóa án tích;
  • Ngày 7/7/1999, Toà án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 5 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 1016/1999/ HSST) – chưa xóa án tích;
  • Ngày 31/8/2006. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 11 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 201/2006/ HSPT) – chưa được xóa án tích;
  • Ngày 13/01/2013. Toà án nhân dân tỉnh B xử phạt 8 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (tổng hợp với 03 năm 9 tháng tù còn lại chưa thi hành của bản án HSST số 201/HSST ngày 28/6/2006 và bản án HSPT số 460/HSPT ngày 31/8/2006) buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 11 năm 9 tháng tù (Bản án số 01/2013/ HSPT) Đoàn Hồng K chấp hành xong hình phạt từ ngày 02/10/2023 - chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Đào Thị T1; Sinh năm: 1978; Địa chỉ: Xóm L, T, T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Những người làm chứng:

  • - Chị Nguyễn Xuân M; Sinh năm: 2006; Địa chỉ: Xóm C; T; T; T; Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • - Ông Cao Duy P; Sinh năm: 1968; Địa chỉ: Số nhà I, ngõ D Xóm L, T, T, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • - Chị Cao Thị Trà G; Sinh năm: 2001; Địa chỉ: S, ngõ F, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
  • - Chị Đào Thị H; Sinh năm: 1989; Địa chỉ: CT12B, Kim Văn Kim L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 17/03/2024 gia đình bà Đào Thị T1 (sinh năm 1978) và ông Cao Mạnh H1 (sinh năm 1977) tổ chức đám cưới cho con trai là anh Cao Anh T2 (sinh năm 1996) tại nhà riêng ở thôn T, T, T, Hà Nội. Khoảng 09h00 cùng ngày chị Cao Thị Thanh H2 (sinh năm 1981- Chỗ ở: T, T, T, Hà Nội - là em chồng của chị T1) đang thay quần áo ở tầng 2 nghe thấy tiếng mở cửa phòng phía tầng 3 thì phát hiện thấy Đoàn Hồng K đang đi từ tầng 3 xuống. Khi nhìn thấy chị H2 thì K nói: “cho em đi vệ sinh nhờ”. Tưởng K là khách đến dự đám cưới nên chị H2 không nói gì và đi xuống tầng 1, còn K đi vào phòng vệ sinh gần phòng riêng của chị Cao Thị Trà G (sinh năm 2001 – là con gái bà T1). Cùng lúc này chị G đi lên phòng riêng ở tầng 2 và mở cửa thì thấy Đoàn Hồng K đang ngồi lục ngăn kéo tủ quần áo của chị ở trong phòng nên chị G hỏi K: “Chú đang làm gì thế”? K trả lời: “Chú đang tìm chìa khóa cho anh L1”. Chị G liền hỏi lại “anh L1 nào?” thì K không trả lời và đi ra cầu thang để đi xuống tầng 1. Chị G liền đi theo K đến cầu thang thấy anh T2 (là chú rể) và chị T3 (là cô dâu) đang đi lên phòng cưới nên hỏi “đây là người quen của ai” thì anh T2 trả lời “không quen”. Chị G nói “người này vừa lên phòng em lục đồ” nên anh T2 liền tóm tay K. K nói đang đi lên tìm hộ đồ cho anh L1 đồng thời giật tay ra để bỏ chạy ra ngoài thì chị G nói “ông đấy vừa lục tủ quần áo” đồng thời hô lên “trộm”... Mọi người đang dự đám cưới ở sân nghe tiếng hô liền xông vào giữ và bắt K ngồi xuống ghế ở trong sân nơi đang tổ chức đám cưới anh T2 - chị T3. Cùng lúc này cháu Nguyễn Xuân M (sinh 2006, Nơi cư trú: T, T, Hà Nội, là khách dự đám cưới) đứng ngay phía sau K dùng điện thoại quay video thì thấy K bị mọi người ghì tay trái gập về sau lưng còn K lúc này cúi gập người xuống mặt bàn. Khi ngực K tỳ sát với mặt bàn thì K nghiêng người và dùng tay phải móc tiền từ túi áo khoác đang mặc ngoài vứt ra gầm bàn hướng về phía bà Triệu Thị C (sinh năm 1961, Nơi cư trú: T, T, T, Hà Nội, là khách dự đám cưới) đang ngồi đối diện. Lúc này chị Đào Thị H (sinh năm 1989, nơi cư trú: T, T, T, Hà Nội - là khách dự đám cưới) cũng nhìn thấy K dùng tay phải cầm tiền ném xuống gầm bàn chỗ bà C ngồi đối diện. Cùng lúc này có một người đàn ông túm tay K thì chị H cũng nhìn thấy K đang cầm trên tay mấy tờ 50.000 đồng và thả xuống chân phải. Ông Cao Duy P (sinh năm 1968, Nơi cư trú: T, T, T, Hà Nội, là khách dự đám cưới) đứng ở cạnh ngay phía sau K khi nhìn xuống thì thấy cạnh chân phải K có 2 tờ tiền mệnh giá 50.000₫ nằm dưới nền sân nên ông cúi xuống thì phát hiện thấy 1 sấp tiền có các mệnh giá khác nhau ở phía bên bà Triệu Thị C nên bảo bà C nhặt để lên bàn và cùng mọi người kiểm đếm được 5.600.000 đồng.

Nghi ngờ K trộm cắp tài sản nên ông H1 cùng bà T1 kiểm tra tại phòng ngủ tầng 3 thì phát hiện bị mất số tiền 5.600.000 đồng để ở trong túi xách màu đen treo ở giá móc trong phòng ngủ nên đã trình báo Công an xã T đến để giải quyết.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin Cơ quan công an đã tạm giữ những đồ vật, tài liệu sau:

- Tạm giữ của bà Đào Thị T1 gồm:

  • + 01(Một) túi xách giả da màu đen đeo chéo đã qua sử dụng;
  • + 5.600.000₫ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) bao gồm: 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (trong đó có 01 tờ tiền có số sơ ri 20346225 có hình số 8 mực màu xanh); 26 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng;

- Tạm giữ của Đào Hồng K gồm:

  • + 01 (Một) giấy bán xe máy biến số 35B2 - 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, số máy JF94E0098936, số khung 633XLZ039772, người bán đề tên là Mai Tuấn A ở Cửa hàng “P1” ở A, ngõ A, Nguyễn X, T, Hà Nội; người mua đề tên là Đoàn Hồng K ở số C, Lương Ngọc Q, H, H, Hà Nội,
  • + 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 143455 do Phòng C1, Công an tỉnh N cấp ngày 29/5/2020 cho chủ xe tên Đinh Mạnh L2, sinh năm 1990 ở xóm E, M, Y, Ninh Bình đối với xe máy biển số 35B2 – 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, màu: đỏ đen xám, số máy JF94E0098936, số khung 633XLZ039772;
  • +01 (Một) túi giả da màu nâu, kích thước (10 x 20) cm;
  • +01 (Một) tô vít dài 20cm, trên tay cầm bằng nhựa có chữ “JIALIJIA”;
  • +01 (Một) túi giả da màu nâu, kích thước (7 x 15) cm;
  • + Số tiền 1.180.000₫ (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng);
  • +01 (Một) điện thoại Iphone màu đen có ốp viền vàng đã qua sử dụng;
  • +01 (Một) mũ lưỡi trai màu đỏ đen bằng vải;
  • +01 (Một) áo khoác (dạng áo vest) mầu nâu đã qua sử dụng;
  • +01 (Một) dài quần sáng mầu (trắng) đã qua sử dụng;
  • +01 (Một) cà vạt bằng vải màu đen đã qua sử dụng;
  • +01 (Một) đôi giầy nam, mầu đen đã qua sử dụng.

- Tạm giữ của chị Nguyễn Xuân M gồm:

  • + 01 (Một) đĩa CD – R “melody", trong có 03 file VideoMP4 là các file quay lại được và đăng trên mạng xã hội lưu lại được.

Tại cơ quan điều tra Đoàn Hồng K khai khoảng 08h ngày 17/03/2024, K điều khiển xe máy nhãn hiệu Airblade màu đỏ BKS: 35B2- 752.43 đi khám bệnh lại Bệnh viện Đ, khi đi đến đoạn G thì gặp một phụ nữ và người này thuê K chở đến T, T, T, Hà Nội với số tiền 100.000 đồng. Theo chỉ dẫn, K chở người này đến một nhà đang tổ chức đám cưới. Lúc này, K buồn đi vệ sinh nên có hỏi chị ta cho K đi vệ sinh nhờ thì người này nói với K: “không phải nhà của tôi, nhưng anh cứ đi vào đấy hỏi xin đi nhờ” rồi người phụ nữ đi thẳng vào trong đám cưới. K dựng xe máy của mình ở cạnh cổng đám cưới rồi đi vào trong để xin đi nhờ vệ sinh. K thấy có một nhà vệ sinh ở chân cầu thang tầng 1 nhưng lúc đó có người đi vào trước nên K đứng ở ngoài. Một người phụ nữ hỏi K “đi vệ sinh à?” và chỉ K lên tầng 2 có nhà vệ sinh.

K đi lên cầu thang để tìm nhà vệ sinh, đi thẳng vào một cửa phòng và mở cửa phòng đó ra. K thấy trong phòng không phải nhà vệ sinh mà thấy quần áo vứt ở trong phòng. K biết là nhầm không phải nhà vệ sinh nên định quay ra thì thấy có một người con gái khoảng 20 tuổi đứng phía sau K từ lúc nào K không biết. Người này tóm lấy vạt áo phía sau K và hỏi: "chú quen biết ai, chú làm gì ở đây” K nói: “đi vệ sinh nhờ”. Người con gái lúc này tay vẫn tóm vạt áo K và la lớn: “mọi người ơi chú này làm gì ở đây này”. Khi đó có mấy nam thanh niên đến giữ, đánh K rồi đưa xuống tầng một. Khi đưa xuống K bị giữ tay và bắt ngồi trên ghế ở dưới sân và mọi người nói K vào đây trộm cắp tài sản. Có một người phụ nữ đưa ra một sấp tiền và nói là do K trộm cắp tài sản, K không thừa nhận mình trộm cắp nên mọi người báo Cơ quan công an xã T đến và đưa K về trụ sở để làm việc.

Tại cơ quan điều tra Đoàn Hồng K không khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên. Căn cứ vào các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được đủ căn cứ xác định K đã trộm cắp của bà Đào Thị T1 tổng số tiền là 5.600.000 đồng.

Đối với 01 chiếc ví giả da và số tiền 5.600.000 đồng là tài sản của bà Đào Thị T1, cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trao trả lại cho bà T1, bà đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự.

Đối với những đồ vật, tài sản đã tạm giữ của Đoàn Hồng K, K khai là tài sản của K do đó cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 140/CT-VKS-TT ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố Đoàn Hồng K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Hồng K đã thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai hôm đó đi khám bệnh ở Bệnh viện Đ nhưng được một người phụ nữ thuê chở đến đám cưới ở T. Khi đến đó, bị cáo có nhu cầu đi vệ sinh là thật. Bị cáo không có ý định trộm cắp từ đầu. Chỉ đến lúc vào nhầm phòng, thấy túi có tiền treo trên tủ mới nhất thời nảy sinh lòng tham và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo khai lý do tại Cơ quan điều tra không thừa nhận hành vi phạm tội vì rất sợ phải quay lại nhà tù một lần nữa. Bị cáo mua xe máy 31 triệu là hợp pháp và có nguyện vọng được nhận lại chiếc xe.

Hội đồng xét xử công bố các ý kiến, lời khai có trong hồ sơ vụ án của bị hại, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 52, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Hồng K mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Trả lại cho bị cáo Đoàn Hồng K chiếc xe máy và toàn bộ các tài sản cá nhân khác không liên quan đến hành vi phạm tội.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị hại, lời khai của bị cáo, người làm chứng...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và tỏ ra vô cùng hối hận về hành vi phạm tội của mình. Mặc dù tại cơ quan điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, các bản ảnh nhận dạng, hình ảnh, các file video được những người làm chứng cung cấp... cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 9h00' ngày 17/3/2024, tại phòng ngủ ở nhà riêng của bà Đào Thị T1 ở thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội, bị cáo Đoàn Hồng K đã có hành vi lén lút lợi dụng sơ hở, chiếm đoạt của bà Đào Thị T1 số tiền 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm nghìn đồng) phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã rất nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong các hoàn cảnh tương tự và cũng đã nhiều lần được nhận sự giáo dục của pháp luật, đáng lẽ phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng nhưng vẫn không làm chủ được bản thân và tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm nên cần áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, chỉ sử dụng làm phương tiện đi lại, liên lạc và sử dụng hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

  • - 01 chiếc xe máy biển số 35B2 – 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, màu: đỏ đen xám, số máy JF9410098936, số khung 633XLZ039772 cùng toàn bộ các giấy tờ kèm theo là: Giấy bán xe máy; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 143455 do Phòng C1. Công an tỉnh N cấp ngày 29/5/2020.
  • - 01(Một) túi giả da màu nâu, kích thước (10 x 20) cm ; 01(Một) tô vít dài 20cm, trên tay cầm bằng nhựa có chữ "JIALIJIA”; 01(Một) túi giả da màu nâu, kích thước (7 x 15) cm; 01(Một) mũ lưỡi trai màu đỏ đen bằng vải; 01(Một) áo khoác (dạng áo vest) mầu nâu qua sử dụng; 01(Một) dài quần sáng mầu (trắng) đã qua sử dụng; 01(Một) cà là vạt bằng vải màu đen đã qua sử dụng; 01( Một) đôi giầy nam, mầu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại Iphone màu đen có ốp viền vàng đã qua sử dụng và 1.180.000 đồng.

[6] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các nhận định trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Hồng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015;

Áp dụng Điều 106; Điều 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử phạt bị cáo Đoàn Hồng K 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án:

Trả lại cho bị cáo:

  • - 01(Một) giấy bán xe máy biển số 35B2 - 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, số máy JF94E0098936, số khung 633XLZ039772, người bán đề tên là Mai Tuấn A ở Cửa hàng "P1” ở A, ngõ A, Nguyễn X, T, Hà Nội; người mua đề tên là Đoàn Hồng K ở số C, Lương Ngọc Q, H, H, Hà Nội
  • - 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 143455 do Phòng C1. Công an tỉnh N cấp ngày 29/5/2020 cho chủ xe tên Đinh Mạnh L2, sinh năm 1990 ở xóm E, M, Y, Ninh Bình đối với xe máy biển số 35B2 – 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, màu: đỏ đen xám, số máy JF94E0098936, só khung 633XLZ039772
  • - 01(Một) chiếc xe máy biển số 35B2 – 75243, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIRBLADE, màu: đỏ đen xám, số máy JF9410098936, số khung 633XLZ039772, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • - 01(Một) túi giả da màu nâu, kích thước (10 x 20) cm; 01(Một) tô vít dài 20cm, trên tay cầm bằng nhựa có chữ "JIALIJIA”; 01(Một) túi giả da màu nâu, kích thước (7 x 15) cm; 01(Một) mũ lưỡi trai màu đỏ đen bằng vải; 01(Một) áo khoác (dạng áo vest) mầu nâu qua sử dụng: 01(Một) dài quần sáng mầu (trắng) đã qua sử dụng; 01(Một) cà là vạt bằng vải màu đen đã qua sử dụng; 01( Một) đôi giầy nam, mầu đen đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) điện thoại Iphone màu đen có ốp viền vàng đã qua sử dụng ( do không mở dược máy nên không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - Số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024.

Số tiền 1.180.000 đồng hiện đang được lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1048094 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, kho bạc nhà nước huyện T theo Ủy nhiệm chi số 107 ngày 25/7/2024.

5. Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu VP và Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 159/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo K lén lút lợi dụng sơ hở chiếm đoạt của bà T1 số tiền 5.600.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger