TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KON TUM | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày: 09/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Bruk và ông Phạm Văn Tiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 05 và ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 08-10-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn B (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Kon Tum. Nơi cư trú: Thôn C xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1956); Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không. Tiền án: 02 tiền án:
- + Ngày 05/8/2019, Phạm Văn B bị tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 25/02/2020, chấp hành xong án phạt tù trở về cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- + Ngày 07/7/2022, Phạm Văn B bị tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm). Ngày 04/11/2023, chấp hành xong án phạt tù trở về cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Đến nay bị cáo Phạm Văn B chưa được xóa án tích.
Nhân thân xấu: Ngày 01/02/2018, bị Công an phường Q, thành phố K ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 0000074/QĐ-XPHC, mức phạt 750.000 đồng (Bị cáo đã nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố K. (Có mặt).
2. Phan Sĩ N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn I xã Đ, TP ., tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Sĩ A (sinh năm 1965) và bà Lê Thị H (sinh năm 1969); Bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân xấu:
- Ngày 19/01/2016, bị Công an thành phố K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 0009610/QĐ-XPHC, mức phạt 750.000 đồng (đã chấp hành xong).
- Ngày 29/11/2022, bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quyết định số 60/QĐ-XPVPHC, mức phạt 2.500.000 đồng (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố K. (Có mặt).
- Người chứng kiến:
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ B, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ B, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 14/6/2024, Phan Sĩ N gặp Phạm Văn B ở trước bên xe tỉnh Kon Tum, thuộc phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Do là bạn nghiện với nhau nên B đã rủ N góp mỗi người góp 250.000 đồng để mua ma túy loại Heroine về sử dụng. N cầm tiền. Sau đó cả 2 đi bộ tìm quanh khu vực bến xe tỉnh K thì gặp được B1 (Chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Do đã mua ma túy của B1 một vài lần để sử dụng nên N đã hỏi mua ma túy loại Heroine của B1 với giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng). B1 đồng ý, cầm tiền và chỉ cho N, B đến gốc cây cạnh chỗ B1 đứng, lấy ở dưới đất 01 (một) gói ma túy đựng trong bì nilông, trong suốt, gói kín. Sau khi mua được ma túy, N cầm trong lòng bàn tay phải rồi cùng Phạm Văn B đi bộ đến khu vực đồi thông thuộc tổ B, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum để sử dụng, nhưng khi vừa đến nơi thì bị Công an thành phố K kiểm tra hành chính, phát hiện trong lòng bàn tay phải của N có 01 (một) bì nilông, trong suốt, gói kín, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy loại Heroine nên đã mời người chứng kiến, đưa cả hai cùng tang vật về trụ sở Công an phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum lập biên bản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 202/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận: “Mẫu chất cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì dán kín gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng là: 0,289 gam”.
Cáo trạng số 137/CT- VKSTPKT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố các bị cáo Phạm Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và bị cáo Phan Sĩ N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Văn B và Phan Sĩ N. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/6/2024).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Phan Sĩ N: từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/6/2024).
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,285 (không phẩy hai tám năm) gam ma túy loại Heroine (H) (Số ma túy còn lại sau giám định) được đựng trong 01 (một) bì ni lông, 01 (một) bì ni lông trong suốt, 01 (một) phong bì đựng mẫu vật gửi giám định, tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 202/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình,cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 14/6/2024, sau khi góp tiền mua ma tuý của đối tượng tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch), Phạm Văn B và Phan Sĩ N đã tàng trữ 0,289 gam ma túy (số ma túy tại thời điểm bắt quả tang), loại: Heroine (H) tại khu vực đồi thông thuộc tổ B, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum để sử dụng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phạm Văn B đã có 02 tiền án nhưng chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo Phạm Văn B thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự hiện hành.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, Khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của Phan Sĩ N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 137/CT- VKSTPKT ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật phòng chống ma túy, khiến các chất ma túy được lưu hành trái phép trong đời sống, tiềm ẩn nhiều nguy cơ hainhf thành các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên có tính nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo cúng như răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
*Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn B và Phan Sĩ N đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .
Về phân hóa trách nhiệm hình sự và các yếu tố lượng hình khác, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo B vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hành; bị cáo N là người thực hành nên trong lần phạm tội này, bị cáo B phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N. Bên cạnh đó, bị cáo N mặc dù không có tiền án, tiền sự nhưng đã 02 lần bị xử phạt hành chính mà vẫn phạm tội. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử đánh giá ý thức pháp luật và khả năng cải tạo của bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, xét về tổng thể (nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ) thì bị cáo B phải chịu mức hình phạt cao hơn do bị truy tố ở khung hình phạt nặng hơn bị cáo N.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định nên không có cơ sở áp dụng hình phạt bổ sung (hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định) đối với các bị cáo.
[6] Đối với đối tượng tên Bình bán ma túy Heroine cho Phan Sĩ N và Phạm Văn B vào ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này. Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh để xử lý khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Vật chứng trong vụ án là số ma túy 0,285 (không phẩy hai tám năm) gam loại Heroine còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì ni lông, 01 (một) bì ni lông trong suốt, 01 (một) phong bì đựng mẫu vật gửi giám định, tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 202/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán. Xét thấy: Đây là các vật chứng bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Các bị cáo Phan Sĩ N và Phạm Văn B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố các bị cáo Phan Sĩ N và Phạm Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/6/2024).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phan Sĩ N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/6/2024).
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 0,285 (không phẩy hai tám năm) gam ma túy loại Heroine (H) (Số ma túy còn lại sau giám định) được đựng trong 01 (một) bì ni lông, 01 (một) bì ni lông trong suốt, 01 (một) phong bì đựng mẫu vật gửi giám định, tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 202/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố K với Cơ quan thi hành án dân sự thành phố K).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Các bị cáo Phan Sĩ N và Phạm Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331,33 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/12/2024), các bị cáo (P và Phạm Văn B) có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND Tp. Kon Tum; - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum; - Công an Tp. Kon Tum; - Chi cục THADS Tp. Kon Tum; - Bị cáo; - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Phương Loan |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo
