Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh - Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Dương Thị Tố Như - Chủ tịch mặt trận tổ quốc phường B'Lao.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn K, tên gọi khác: Không, sinh ngày 09/6/1999 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn I, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K1, sinh năm 1974 và con bà Vũ Thị T, sinh năm 1978, cả hai hiện trú tại thôn I, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; gia đình có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 1995, bị cáo là con út; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 07/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 02/2022/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù từ ngày 19/01/2023.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 22/7/2024 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Cháu Lê Như N, sinh ngày: 20/5/2008; nơi cư trú: Số F thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Như N: Ông Lê Văn D, sinh năm: 1982 và bà Vũ Thanh H, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Số F thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/4/2024, cháu Lê Như N, sinh ngày 20/5/2008, trú tại: thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng đặt mua quần áo trên mạng thì được Hoàng Văn K là nhân viên giao hàng cho cháu N. Sau khi giao nhận hàng, N và K nhắn tin nói chuyện qua lại với nhau qua mạng xã hội Zalo. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N nhắn tin với Hoàng Văn K nói “cúp điện rồi, em đi với bạn lên Bảo Lộc uống cà phê” Khải nói “để anh qua chở” thì N đồng ý, sau đó K điều khiển xe mô tô biển số 49G1-789.43 đến nhà N, chở N đi uống bia ở khu vực bờ hồ B. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày cháu N nhờ K chở N về, K nói đã uống bia rồi đi xe sợ bị kiểm tra nên thuê khách sạn nghỉ mai về, N không nói gì nên K chở cháu N vào nhà nghỉ Y, địa chỉ số C T, phường L, thành phố B, K thuê phòng số 08, sau khi thuê phòng N đồng ý cùng K ở qua đêm cùng K. Tại đây K và N nằm trên giường ôm hôn nhau, K cởi hết quần áo của N, lúc này N nằm ngửa trên giường, hai chân duỗi thẳng, Khải quỳ gối giữa hai chân của N rồi đưa dương vật của K vào trong âm đạo của N khoảng 5-10 phút rồi xuất tinh ra ngoài, sau đó K và N vệ sinh rồi nằm trên giường ôm nhau ngủ. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 16/4/2024 K tiếp tục quan hệ tình dục với cháu N lần thứ hai, K cũng xuất tinh ra ngoài âm đạo của N. Sau khi quan hệ xong cháu N và K ngủ đến 06 giờ sáng, K chở cháu N về Di L.

Tiếp đến, vào khoảng 23 giờ ngày 20/4/2024 K cùng với Nguyễn Anh T1, sinh năm 2007, trú tại thành phố B và Phạm Minh T2, sinh năm 2008, trú tại: thôn G, xã H, huyện D đến nhà nghỉ Á, địa chỉ số C T, phường L, thành phố B thuê 02 phòng (số A và 201) rồi mua đồ ăn mang về phòng số 100 cùng ăn uống tại đây. Đến khoảng 24 giờ T1 và T2 đi về phòng của mình (phòng 201), còn N và K ở lại phòng số 100. K nói “N ơi cho anh xin 1 cái”, cháu N nói “từ đã em đang ăn”, K nói “ăn xong rồi để đó lên giường nằm”, cháu N đồng ý và lên giường nằm, sau đó K và cháu N đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau 01 lần. Đến ngày 10/5/2024 cháu N nói cho ông Lê Văn D là bố của cháu N biết sự việc và ông D trình báo cơ quan Công an.

Căn cứ Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số: 27/KLTDTE-PYLĐ, ngày 27/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L. Kết luận: Màng trinh hình vành khăn, rách cũ vị trí 3 giờ và 11giờ. Tại thời điểm giám định cháu Lê Như N không có thai.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu xanh ngọc, số IMEI 1: 866996068352873, số IMEI 2: 866996068352865 cho bị cáo K, người được bị cáo ủy quyền nhận tài sản là chị Hoàng Thị H1, sinh ngày: 09/9/1994, nơi thường trú: thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của người bị hại là chị Vũ Thanh H, sinh năm: 1978, (mẹ ruột của cháu Lê Như N) yêu cầu bị cáo Hoàng Văn K bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

Cáo trạng số: 154/CT-VKSBL ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Hoàng Văn K về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận đã 03 lần quan hệ tình dục với cháu Lê Như N như nội dung bản cáo trạng đã nêu, trong cả 03 lần quan hệ này thì cháu N đều tự nguyện, bị cáo không có hành động gì ép buộc, đe dọa hay đánh đập gì; bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 50.000.000đ, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 05 đến 06 năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận, bị cáo Hoàng Văn K bồi thường 50.000.000đ cho cháu Lê Như N.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 15/4/2024 đến ngày 20/4/2024 tại nhà nghỉ Y, địa chỉ số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nhà nghỉ Á, địa chỉ số C T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Hoàng Văn K (là người đủ 18 tuổi) đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục 03 lần với cháu Lê Như N sinh ngày 20/5/2008 khi cháu N chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 10 tháng 26 ngày). Trong cả 03 lần quan hệ tình dục này thì K không ép buộc, không đe dọa hay dùng vũ lực gì mà cháu N đều tự nguyện. Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện, mục đích để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn K đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung là “Phạm tội từ 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần (03 lần) nhưng đây là tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi đang có tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương; đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em, khách thể luôn được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển thể chất bình thường của bị hại cũng như gây ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Mặt khác, bị cáo phạm tội khi đang có tiền án. Vì vậy, phải xử phạt nghiêm, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa giữa bị cáo và ông Lê Văn D, bà Vũ Thanh H (là bố mẹ của bị hại) đã thỏa thuận về việc bồi thường dân sự. Theo đó bị cáo sẽ bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ. Xét thấy, thỏa thuận bồi thường này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Vì vậy, cần công nhận sự thỏa thuận này.

[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu xanh ngọc, số IMEI 1: 866996068352873, số IMEI 2: 866996068352865 cho bị cáo K, người được bị cáo ủy quyền nhận tài sản là chị Hoàng Thị H1, sinh ngày: 09/9/1994, nơi thường trú: thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Xét thấy việc xử lý vật chứng này của Cơ quan điều tra là đúng pháp luật nên không đề cập đến.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 590, 592 Bộ luật Dân sự.

    Công nhận sự thỏa thuận, bị cáo Hoàng Văn K có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại là cháu Lê Như N số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Hoàng Văn K phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an TP. Bảo Lộc;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger