TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày: 15-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hữu Chí.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kim Xuyến;
- Ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/TLST-HS ngày 10/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị T (tên gọi khác: Không có), sinh năm 1969 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: tổ A khu K, Thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1937 (đã chết); Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân tốt.
Bị cáo được tại ngoại điều tra (Có mặt).
2. Nguyễn Văn B (tên gọi khác: Bảy L), sinh năm 1974 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) và bà Lê Thị T2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Trần Thị Á, sinh năm 1974 và có 02 con (Lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005); Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2024, đến ngày 23/01/2024 được tại ngoại điều tra (Có mặt).
3. Phan Nguyễn Phong V (tên gọi khác: H), sinh năm 1970 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Văn Thị Hồng T3 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2024, đến ngày 23/01/2024 được tại ngoại điều tra (Có mặt).
4. Võ Đình M (tên gọi khác: T4), sinh năm 1976 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Á1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Phan Thị Bích L1, sinh năm 1977 và có 01 con sinh năm 2001; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2024, đến ngày 23/01/2024 được tại ngoại điều tra (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: khu phố P, Thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Anh P1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Lê Thị T và Nguyễn Văn B đã nảy sinh ý định đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B và các tỉnh Miền Nam. T đứng ra làm chủ đề, B nhận phơi đề của các con bạc sau đó chuyển lại cho T để hưởng hoa hồng 80.000 đồng/1.000.000 đồng và cách thức ghi số đề: đầu đuôi: Đài miền N, miền T là đặt cược vào 2 con số tự nhiên của giải tám (gọi là số đầu) và 2 con số tự nhiên cuối cùng của giải đặt biệt (gọi là số đuôi). Đài miền B thì đặt cược vào 2 con số của giải bảy (có 04 số, gọi là số đầu) và 2 con số cuối cùng của giải đặt biệt (gọi là số đuôi). Bao lô 02 số Đài miền N và miền T có tổng cộng 18 lô/1 đài, bao lô 02 số Đài miền B có tổng cộng 27 lô/1 đài. Bao lô 03 số: Đài miền N và miền T có tổng cộng có 17 lô/1 đài, miền B có tổng cộng 23 lô/1 đài. Đánh “xỉu chủ”: Đài miền N là đặt tiền cược vào 3 con số của giải bảy và 3 con số cuối cùng của giải đặc biệt, Đài miền B1 là đặt tiền cược vào 3 con số cuối cùng của giải sáu và 3 con số cuối cùng của giải đặc biệt; Đánh “số đá”: Là đặt cược vào 2 cặp số tự nhiên của cùng một kết quả xổ số, nếu kết quả xổ số có 2 cặp số này thì sẽ trúng, nếu không
có 1 trong 2 cặp số sẽ thua và Lê Thị T quy định tỉ lệ cược là ghi số đầu và đuôi tỉ lệ 1/75 (đặt cược 1.000 đồng thắng 75.000 đồng), bao lô tỉ lệ 1/75 (đặt cược 1.000₫ thắng 75.000 đồng), số đá tỉ lệ 1/600 (đặt cược 1.000 đồng ăn 600.000 đồng), xỉu chủ tỉ lệ 1/550 (đặt cược 1.000 đồng ăn 600.000 đồng).
- Vào ngày 13/01/2024, Phan Nguyễn Phong V sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone, gắn sim số 0904.588.xxx nhắn tin cho Nguyễn Văn B ghi đề trên hai đài miền B và miền N, cụ thể như sau:
+ Ghi đài Long An gồm các số: Ghi số đầu gồm 24,11, 19, 99, 52, 41với tổng số tiền 2.870.000 đồng; ghi số đuôi 52 với tổng số tiền 500.000 đồng; Xỉu chủ số 652, 752, 852, 985 với tổng số tiền 280.000 đồng; Bao lô số 52 số tiền 1.800.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Long An là 5.450.000 đồng.
+ Ghi đài thành phố Hồ Chí Minh gồm các số: đánh số đầu 99,52,11 với tổng số tiền 1.400.000 đồng; S1 đuôi 99,52,11 với tổng số tiền 640.000 đồng; Bao lô số 52 số tiền 1.800.000 đồng; Xỉu chủ số 652, 752, 852 với tổng số tiền 180.000 đồng; Tổng số tiền ghi trên đài Long An là 4.020.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số, V không trúng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc đài Long An và thành phố Hồ Chí Minh là 9.900.000 đồng. V chưa đưa tiền cho B.
+ Ghi đài miền B (đài Nam Định) gồm: đánh đuôi các số 00,11,22,33,44,55,66,77,88,99,74,90,11 với tổng số tiền 4.25.000 đồng; Số đá 11:63:94 với số tiền 1.620.000 đồng; Bao lô số 00 số tiền 810.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số, V không trúng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc đài Miền B1 là 6.680.000 đồng. V chưa đưa tiền cho B.
- Vào ngày 14/01/2024, Võ Đình M sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X, gắn sim số 0835.604.xxx nhắn tin cho B ghi đề trên đài miền N, cụ thể như sau:
+ Ghi đài Tiền Giang gồm các số: ghi số đầu gồm 41, 68, 56, 52, 1, 81, 38, 78, 32, 28, 68, 91, 51, 72, 15, 95, 54, 35, 75, 56, 8, 48, 28 tổng số tiền 1.070.000 đồng; ghi số đuôi các số 41, 68, 56, 52, 1, 81, 38, 78, 5, 50, 19, 32, 28, 68, 91, 51, 72, 15, 95, 54, 55, 35, 56, 8, 48, 28 với tổng số tiền 1.350.000 đồng; Xỉu chủ số 344, 489, 589 với tổng số tiền 180.000 đồng; Bao lô số 89,98 số tiền 360.000 đồng; Đầu đuôi các số 44, 32, 72, 89, 18, 27, 29, 30, 70 với tổng số tiền 780.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Tiền Giang là 4.460.000 đồng.
+ Ghi đài Kiên Giang gồm các số: ghi số đầu 41, 68, 56, 52, 1, 81, 38, 78, 32, 28, 68, 91, 51, 72, 15, 95, 54, 35, 75, 56, 8, 48, 28 tổng số tiền 1.160.000 đồng; ghi số đuôi các số 41, 68, 56, 52, 1, 81, 38, 78, 5, 50, 19, 32, 28, 68, 91, 51, 72, 15, 95, 54, 55, 35, 56, 8, 48, 28 với tổng số tiền 1.580.000 đồng; Xỉu chủ số 344, 489, 589 với tổng số tiền 180.000 đồng; Bao lô số 89,98 số tiền 360.000 đồng; Đầu đuôi các số 44, 32, 72, 89, 18, 27, 29, 30, 70 với tổng số tiền 780.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Kiên Giang là 4.780.000 đồng.
Chưa có kết quả xổ số. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc đài Tiền Giang và Kiên G là 9.240.000 đồng. M chưa đưa tiền cho B.
- Nguyễn Tấn P1 sử dụng điện thoại di động hiệu Sam sung, gắn sim số 0784208334 nhắn tin cho B ghi đề trên đài miền N, cụ thể như sau:
+ Ghi đài Tiền Giang gồm các số: Số đá 15:50:43; 79:49:62; 14:18:31 với tổng số tiền 756.000 đồng; ghi đầu đuôi các số 09,43 với tổng số tiền 180.000 đồng; Bao lô số 09, 009, 309, 68, 79, 49, 43, với số tiền 1.610.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Tiền Giang là 2.606.000 đồng.
+ Ghi đài Kiên G gồm các số: Số đá 15:50:43; 79:49:62; 14:18:31 với tổng số tiền 756.000 đồng; Đầu đuôi các số 09,43 với tổng số tiền 180.000 đồng; Bao lô số 09, 009, 309, 68, 79, 49, 43, với số tiền 1.250.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Kiên Giang là 2.246.000 đồng.
Chưa có kết quả xổ số. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên đài Tiền Giang và Kiên G là 4.972.000 đồng. P1 chưa đưa tiền cho B.
Sau khi bán phơi đề cho V, M và P1 xong, B chuyển toàn bộ phơi đề trên cho T. Giữa B với T chưa giao nhận tiền cho nhau.
Đến 16 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, khi Nguyễn Văn B đang tính tiền trên phơi đề thì bị Công an huyện N phối hợp Công an thị trấn H phát hiện bắt quả tang. Sau đó, Võ Đình M, Phan Nguyễn Phong V, Lê Thị T đã ra đầu thú (bút lục 136-140; 152-156; 170-175;183-184).
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại hiệu Iphone màu bạc, gắn sim số 0797583206 của Nguyễn Văn B sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim số 0835604426 của Võ Đình M sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen, gắn sim số 0904588531 và 01 máy tính hiệu casino của Phan Nguyễn Phong V sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen, gắn sim số 0784208334 của Nguyễn Tấn P1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Số tiền 10.000.000 đồng của Phan Nguyễn Phong V không sử dụng vào việc phạm tội (Đã trả lại).
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 163/CT-VKSNT ngày 06/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Lê Thị T – Số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng;
- Bị cáo Nguyễn Văn B - Số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng;
- Bị cáo Phan Nguyễn Phong V - Số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Võ Đình M - Số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
+ Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước phương tiện các bị can dùng vào việc phạm tội gồm:
- 01 điện thoại hiệu Sam sung màu xanh đen của Nguyễn Tấn P1.
- 01 điện thoại hiệu Iphone X màu trắng của Võ Đình M
- 01 điện thoại hiệu Iphone màu bạc của Nguyễn Văn B
- 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen của Phan Nguyễn Phong V.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại của Nguyễn Văn B; 01 sim điện thoại của Võ Đình M; 01 sim điện thoại của Phan Nguyễn Phong V; 01 sim điện thoại của Nguyễn Tấn P1 và 01 máy tính hiệu casino dùng vào việc phạm tội.
- Buộc bị cáo Võ Đình M nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.240.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
- Buộc bị cáo Phan Nguyễn Phong V nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.900.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
- Buộc Nguyễn Tấn P1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 4.972.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố tại bản Cáo trạng số 163/CT-VKSNT ngày 06/6/2024. Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, thừa nhận hành vi sai trái và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Xét các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự và không bị khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án. Cho thấy: Vào ngày 13/01/2024 và ngày 14/01/2024, Nguyễn Văn B đã có hành vi ghi đề rồi giao phơi cho Lê Thị T để T đánh bạc với các con bạc bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Long An và Thành phố Hồ Chí Minh), Miền B1 (đài Nam Định) ngày 13/01/2024 là 16.580.000 đồng (số tiền dùng đánh bạc của Phan Nguyễn Phong V) và ngày 14/01/2024 là 14.212.000 đồng (gồm: Số tiền dùng vào việc đánh bạc của Võ Đình M là 9.240.000 đồng và Nguyễn Tấn P1 là 4.972.000 đồng trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N là Tiền Giang, Kiên Giang). Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đã hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, bản Cáo trạng số 163/CT-VKSNT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; có nhân thân tốt; chưa có tiền án tiền sự phù hợp quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Riêng Tư, V còn có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (Đầu thú).
Đối với bị cáo Võ Đình M được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú; có nhân thân tốt; chưa có tiền án tiền sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Xét vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xét xử nghiêm và căn cứ vào từng hành vi phạm tội của các bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa tội phạm. Trong vụ án này, do muốn kiếm tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên bị cáo Lê Thị T đã cùng với bị cáo Nguyễn Văn B bàn bạc việc đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi
số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B và các tỉnh Miền Nam. Theo đó, T đứng ra làm chủ đề, còn B nhận phơi đề của các con bạc sau đó chuyển lại cho T để hưởng hoa hồng 80.000 đồng/1.000.000 đồng. Kết quả trong ngày 13/01/2024 B đã giao cho T tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Phan Nguyễn Phong V trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Long An và Thành phố Hồ Chí Minh), miền B (đài Nam Định) là 16.580.000 đồng; trong ngày 14/01/2024, B tiếp tục giao cho T 14.212.000 đồng (gồm: Số tiền dùng vào việc đánh bạc của Võ Đình M là 9.240.000 đồng và Nguyễn Tấn P1 là 4.972.000 đồng) dùng vào việc đánh bạc trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Tiền Giang, Kiên Giang). Hành vi phạm tội của các bị cáo T, B, V đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, là một trong các nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, bản thân các bị cáo biết rất rõ việc đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới mọi hình thức là tệ nạn xã hội mà Nhà nước đã nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo T, B, V quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt; chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo T, V còn có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đầu thú. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử xét thấy tuy các bị cáo T, B, V phạm tội 02 lần trở lên nhưng những lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong thời gian được cho tại ngoại, các bị cáo không vi phạm gì, chấp hành tốt pháp luật địa phương, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ vì mong muốn trục lợi cá nhân mà không cần phải lao động cực nhọc nên việc áp dụng biện pháp trừng phạt về kinh tế đối với hành vi phạm tội của các bị cáo sẽ tước bỏ khả năng, cơ hội tái phạm tội của các bị cáo; đồng thời nhằm tạo điều kiện để bản thân các bị cáo có khả năng tiếp tục lao động khắc phục hậu quả của tội phạm nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo là đủ nghiêm, đủ sức để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo để các bị cáo từ bỏ thói đam mê cờ bạc, cải tạo bản thân, tu chí làm ăn lương thiện.
Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo Võ Đình M tham gia đánh bạc ngày 14/01/2024 với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Tiền Giang, Kiên Giang) là 9.240.000 đồng. Bản thân bị cáo cũng biết rất rõ việc đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương, đi ngược lại với việc đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trên địa bàn huyện N nói riêng và trong toàn xã hội nói chung, ảnh hưởng đến tài sản, hạnh phúc gia đình, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm để răn đe, cải tạo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, chưa tiền
án tiền sự, đầu thú phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo M cũng chỉ xuất phát từ mục đích hưởng lợi bất chính nên việc áp dụng biện pháp trừng phạt về kinh tế đối với hành vi phạm tội của bị cáo sẽ tước bỏ khả năng, cơ hội tái phạm tội của bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo cũng đủ nghiêm, đủ sức để răn đe đối với bị cáo.
Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Tấn P1 đã có hành vi đánh bạc với số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự mà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về biện pháp tư pháp:
- 01 điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen của Nguyễn Tấn P1; 01 điện thoại hiệu Iphone X màu trắng của Võ Đình M; 01 điện thoại hiệu Iphone màu bạc của Nguyễn Văn B và 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen của Phan Nguyễn Phong V là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- 01 sim điện thoại của Nguyễn Văn B; 01 sim điện thoại của Võ Đình M; 01 sim điện thoại của Phan Nguyễn Phong V; 01 sim điện thoại của Nguyễn Tấn P1 và 01 máy tính hiệu casino dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- Buộc bị cáo Võ Đình M nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.240.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
- Buộc bị cáo Phan Nguyễn Phong V nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.900.000 đồng dùng vào việc đánh bạc
- Buộc anh Nguyễn Tấn P1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 4.972.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
[5] Về án phí: Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326, 327 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M phạm tội “Đánh bạc”.
1. Hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt:
- Bị cáo Lê Thị T – Số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);
- Bị cáo Nguyễn Văn B – Số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);
- Bị cáo Phan Nguyễn Phong V – Số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Võ Đình M – Số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại hiệu Samsung màu xanh đen của Nguyễn Tấn P1; 01 điện thoại hiệu Iphone X màu trắng của Võ Đình M; 01 điện thoại hiệu Iphone màu bạc của Nguyễn Văn B và 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen của Phan Nguyễn Phong V là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại của Nguyễn Văn B; 01 sim điện thoại của Võ Đình M; 01 sim điện thoại của Phan Nguyễn Phong V; 01 sim điện thoại của Nguyễn Tấn P1 và 01 máy tính hiệu casino dùng vào việc phạm tội.
(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 10/6/2024).
- Buộc bị cáo Võ Đình M nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.240.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
- Buộc bị cáo Phan Nguyễn Phong V nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.900.000 đồng dùng vào việc đánh bạc
- Buộc anh Nguyễn Tấn P1 nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 4.972.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử buộc các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Văn B, Phan Nguyễn Phong V và Võ Đình M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng anh Nguyễn Tấn P1 được quyền kháng cáo Bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hữu Chí |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 13/01/2024 và ngày 14/01/2024, Nguyễn Văn Bảy đã có hành vi ghi đề rồi giao phơi cho Lê Thị Tư để Tư đánh bạc với các con bạc bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền Nam (Long An và Thành phố Hồ Chí Minh), Miền Bắc (đài Nam Định) ngày 13/01/2024 là 16.580.000 đồng (số tiền dùng đánh bạc của Phan Nguyễn Phong Vân) và ngày 14/01/2024 là 14.212.000 đồng (gồm: Số tiền dùng vào việc đánh bạc của Võ Đình Mai là 9.240.000 đồng và Nguyễn Tấn Phát là 4.972.000 đồng trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền Nam là Tiền Giang, Kiên Giang).
