Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 159/2024/HS-PT.

Ngày: 17/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm.

Ông Phạm Trường Du.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024. Do Bản án Hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXPT-HS ngày 04/9/2024.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Khuất Tiến T, tên gọi khác: Không - Sinh năm 2005 tại Thanh Hoá.

Nơi ĐKHKTT: SN 10/65 L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi tạm trú: Lô 386 CL10, MB A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Khuất Duy S (1979) và bà: Trịnh Thị Ngọc L (1981); Vợ, con: Chưa; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 đến ngày 21/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh” (bị cáo tại ngoại có mặt).

* Nguyên đơn dân sự (không kháng cáo): Công an thành phố T.

Địa chỉ: Đại lộ N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Ngọc Dởng Công an thành phố T.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Văn Slội trưởng Đ, Công an thành phố T (có mặt).

(Theo Quyết định uỷ quyền tham gia tố tụng số 77/QĐ-CATPTH ngày 20/5/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, khoảng 19 giờ ngày 20/02/2024 Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an T chốt kiểm tra nồng độ cồn đối với người tham gia giao thông đường bộ tại tuyến đường T, thuộc phường T, TP. Tham gia thực hiện nhiệm vụ gồm các ông Nguyễn Văn T1 (trưởng), ông Phùng Quốc C, ông Trần Hợp T2, ông Nguyễn Hữu N, ông Lê Văn C1, ông Trần Văn N1, ông Trịnh Văn H, ông Đỗ Xuân Q, ông Nguyễn Xuân H1, ông Hoàng Hữu C2ng Trịnh Minh L1.

Đến khoảng 21h cùng ngày, trong khi làm nhiệm vụ, Tổ công tác phát hiện Khuất Tiến T (SN 2005) trú tại S L, phường Đ, thành phố T điều khiển xe mô tô Future màu trắng, đăng ký BKS:36B8 - 931.58 (nhưng không gắn biển số) chở theo bạn là Trần Đức H (SN 2005), trú tại: SN A Đ, P. B, TP. Đào Hoàng A (SN 2005), trú tại: SN F H, P. Đ, TP. thông trên đường theo hướng từ phường N đi phường T. Phát hiện T đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe phóng nhanh, lạng lách nên Tổ công tác ra hiệu lệnh yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Do trước đó T dụng rượu bia nên không chấp hành hiệu lệnh, không dừng xe tiếp tục điều khiển xe với tốc độ cao lao về phía Tổ Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, húc đổ các cọc tiêu phân làn đường, đâm vào đèn hậu bên trái xe ô tô của Đội Cảnh sát giao thông đậu sát lề đường khi đang làm nhiệm vụ. Hậu quả Khuất Tiến T, Trần Đức H2, Đào Hthương nhẹ, đèn hậu bên trái xe ô tô của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T vỡ, gián đoạn quá trình làm nhiệm vụ của tổ công tác.

Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Khuất Tiến T, kết quả nồng độ cồn là 0.44mg/lít khí thở.

Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T định: Giá trị thiệt hại của đèn xe ô tô là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Đối với Trần Đức H2, Đào Hoàng A trình điều tra từ chối giám định sức khoẻ và không yêu cầu, đề nghị gì.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bị cáo Khuất Tiến T tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt Khuất Tiến T 6 (sáu) tháng tù. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/7/2024 Khuất Tiến T kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo của bị cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 21 giờ ngày 20/02/2024, trên tuyến đường T thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Khuất Tiến T điều khiển xe mô tô Future màu trắng (đăng ký BKS:36B8 - 931.58) nhưng không gắn biển kiểm soát, không đội mũ bảo hiểm chở phía sau Trần Đức H2ào Hoàng A. Khi phát hiện hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra của Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T, Khuất Tiến T không chấp hành hiệu lệnh, không dừng xe để kiểm tra mà còn tăng tốc lao vào Tổ công tác, va vào các cọc tiêu phân làn đường, đâm vào đèn hậu bên trái xe ô tô của Tổ công tác khi đang làm nhiệm vụ, gây gián đoạn việc kiểm tra an toàn giao thông của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T. Hành vi nêu trên của Khuất Tiến T các dấu hiệu cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước của những người đang thi hành công vụ được pháp luật bảo vệ; gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố T. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đe và phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Khuất Tiến T:

[4.1] Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải”; “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; sau khi phạm tội đã tác động đến gia đình để “bồi thường thiệt hại”; Đại diện nguyên đơn dân sự (Công an thành phố T) có ý kiến đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi sai phạm của mình, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp toàn bộ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0000827 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá khi Bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Bản thân là thanh niên mới lớn lên, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đã nhất thời phạm tội; Quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào, luôn đi đầu trong các phong trào tại nơi cư trú, tích cực tham gia đóng góp, ủng hộ các quỹ do Mặt trận Tổ quốc và địa phương phát động như ủng hộ Quỹ vì người nghèo năm 2024 là 500.000đ; Ủng hộ đồng bào lũ lụt do cơn bão số 3/2024 là 1.000.000đ (Chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị xem xét cho bị cáo). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cần áp dụng khi xem xét nội dung kháng cáo và hình phạt đối với bị cáo.

[5] HĐXX nhận thấy bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; Tại cấp phúc thẩm còn có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, nếu áp dụng hình phạt tù giam sẽ rất khó khăn cho gia đình và tương lai bản thân của bị cáo. Bị cáo cũng đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình, hứa không vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho hưởng án treo không gây ra nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn tại địa phương nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ Điều 65 của BLHS chuyển hình phạt cho được hưởng án treo để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Khuất Tiến T có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX và có căn cứ pháp luật.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Khuất Tiến T phải chịu.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Khuất Tiến T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khuất Tiến T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Tuyên bố: Bị cáo Khuất Tiến T tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Khuất Tiến T 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (17/9/2024).

Giao bị cáo Khuất Tiến T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Khuất Tiến T phải chịu.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Khuất Tiến T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Nguyên đơn DS;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an TP Thanh Hoá, TH;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - TAND; VKSND TP. Thanh Hóa, TH;
  • - Chi cục THA DS TP. Thanh Hóa, TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự - chống người thi hành công vụ (phúc thẩm)

  • Số bản án: 159/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Chống người thi hành công vụ (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khuất Tiến Ttội “Chống người thi hành công vụ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger