Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 158/2023/DS-ST

Ngày: 30-10-2023

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tấn Phát;
  2. Ông Trần Hoài Duy.

– Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12-10-2023 và ngày 30-10-2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXXST-DS ngày 06-9-2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 96A ngày 26-9-2023 và Quyết định ngừng phiên tòa số: 43A/2023/QĐST-DS ngày 12-10-2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Cao Văn T, sinh năm 1975; chị Trần Thị N, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Số MBB, đường số MHA, ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp Xóm MM, xã Trí B, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. (Hợp đồng ủy quyền ngày 07-4-2023); vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Bạch Hải V, sinh năm 1983, chị Lê Ngọc D, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: Số HKB, đường số MHA, ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08-5-2023 của nguyên đơn, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án của người đại diện anh Nguyễn Quốc H trình bày:

Vào ngày 01-4-2023 vợ chồng anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D có chuyển nhượng cho vợ chồng anh Cao Văn T, chị Trần Thị N phần đất diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07528, số phát hành CV688569 do Sở tài nguyên và Môi trường cấp ngày 02-7-2020 với giá là 2.200.000.000 đồng; do trước đây vợ chồng anh V, chị D có nợ vợ chồng anh T, chị N số tiền hụi 1.060.000.000 đồng nên hai bên thống nhất số tiền này sử dụng để đặt cọc tiền đất, còn lại 1.140.000.000 đồng sẽ giao khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hai bên có lập hợp đồng đặt cọc và hẹn đến ngày 04-4-2023 sẽ đến Văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Đến hẹn vợ chồng anh T, chị N điện thoại nhiều lần cho vợ chồng anh V, chị D không được; hiện nay được biết phần đất trên anh V, chị D đã ký chuyển nhượng cho người khác. Ngày 08-5-2023 anh T, chị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh V, chị D trả lại cho vợ chồng anh T, chị N số tiền cọc là 1.060.000.000 đồng và bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đã ký kết ngày 01-4-2023 số tiền là 2.120.000.000 đồng; tổng cộng là 3.180.000.000 đồng và do tài sản quyền sử dụng diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là tài sản anh V, chị D chuyển nhượng cho vợ chồng anh T, chị N nên yêu cầu dùng tài sản này để ưu tiên thi hành án.

Ngày 06-9-2023 anh Nguyễn Quốc H là người đại diện cho anh T, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bồi thường gấp đôi 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản (phần đất trên) để ưu tiên thi hành án; chỉ yêu cầu anh V, chị D trả lại số tiền 1.060.000.000 đồng.

- Còn đối với bị đơn anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D vắng mặt; Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nhưng anh Vương, chị Diện không đến Tòa án và cũng không có bản trình bày ý kiến nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự vắng mặt đã được Tòa án tống đạt đầy đủ thủ tục theo quy định nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 122; Điều 131; Điều 328 của BLDS; Điều 188 Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Cao Văn T, chị Trần Thị N đối với anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D; buộc anh V, chị D có trách nhiệm trả số tiền 1.060.000.000 đồng cho anh T, chị N; đình chỉ yêu cầu bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản trên để ưu tiên thi hành án; về án phí dương sự phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt có người đại diện, người đại diện có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D vắng mặt; Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điền 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Vào ngày 01-4-2023 vợ chồng anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D có chuyển nhượng cho vợ chồng anh Cao Văn T, chị Trần Thị N phần đất diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07528, số phát hành CV688569 do Sở tài nguyên và Môi trường cấp ngày 02-7-2020 với giá là 2.200.000.000 đồng; do trước đây vợ chồng anh V, chị D có nợ vợ chồng anh T, chị N số tiền hụi 1.060.000.000 đồng nên hai bên thống nhất số tiền này sử dụng để đặt cọc tiền đất, còn lại 1.140.000.000 đồng sẽ giao khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hai bên có lập hợp đồng đặt cọc và hẹn đến ngày 04-4-2023 sẽ đến Văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đến hẹn vợ chồng anh T, chị N điện thoại nhiều lần cho vợ chồng anh V, chị D không được; hiện nay được biết phần đất trên anh V, chị D đã ký chuyển nhượng cho người khác. Ngày 08-5-2023 anh T, chị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh V, chị D trả lại cho vợ chồng anh T, chị N số tiền cọc là 1.060.000.000 đồng và bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đã ký kết ngày 01-4-2023 số tiền là 2.120.000.000 đồng; tổng cộng là 3.180.000.000 đồng và do tài sản quyền sử dụng diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là tài sản anh V, chị D chuyển nhượng cho vợ chồng anh T, chị N nên yêu cầu dùng tài sản phần đất trên để ưu tiên thi hành án. Đến này 06-9-2023 anh Nguyễn Quốc H là người đại diện cho anh T, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bồi thường gấp đôi 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản để ưu tiên thi hành án; chỉ yêu cầu anh V, chị D trả lại số tiền 1.060.000.000 đồng.

[2.1] Còn đối với bị đơn anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định; nhưng anh V, chị D không đến Tòa án và cũng không có bản trình bày ý kiến.

[2.2] Xét thấy căn cứ vào hợp đồng đặt cọc ngày 01-4-2023 giữa anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D với anh Cao Văn T, chị Trần Thị N đã ký nội dung thể hiện ngày 01-4-2023 vợ chồng anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D (Bên A) bên chuyển nhượng và vợ chồng anh Cao Văn T, chị Trần Thị N (Bên B) bên nhận chuyển nhượng; hai bên đồng ý thỏa thuận như sau: Bên A đồng ý sang nhượng cho bên B phần đất có diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh với số tiền 2.200.000.000 đồng; đất và nhà hợp pháp, không tranh chấp, không quy hoạch, không giải tỏa; bên B đặt cọc trước là 1.060.000.000 đồng số tiền mà bên A nợ tiền hụi bên B, số tiền còn lại 1.140.000.000 đồng bên B sẽ giao đủ cho bên A tại phòng Công chứng nhà nước, sau khi trừ các khoản thuế mà bên A còn phải nộp; phần nghĩa vụ thuế: Bên A chịu phần thuế thu nhập cá nhân và thuế nhà đất hàng năm, bên B sẽ được nhận nhà đất ngay sau khi đã giao đủ tiền cho bên A. Hợp đồng được lập thành 02 bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ 01 bản; nếu bên nào vi phạm hợp đồng sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm: bên B sai thì mất tiền cọc, bên A sai thì đền gấp đôi tiền cọc. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh T, chị N.

[3] Xét về chứng cứ: Căn cứ hợp đồng đặt cọc ngày 01-4-2023 giữa anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D với anh Cao Văn T, chị Trần Thị N đã ký do nguyên đơn cung cấp. Quá trình giải quyết vụ án người đại diện nguyên đơn anh Nguyễn Quốc H xác định chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là đúng.

[4] Xét đối với yêu cầu bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đã ký kết ngày 01-4-2023 số tiền là 2.120.000.000 đồng và do tài sản quyền sử dụng diện tích 199 m², thửa đất số 351, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp Tân T, xã Tân B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh là tài sản anh V, chị D chuyển nhượng cho vợ chồng anh T, chị N nên yêu cầu dùng tài sản này để ưu tiên thi hành án. Ngày 06-9-2023 anh Nguyễn Quốc H là người đại diện của anh T, chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền bồi thường gấp đôi 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản phần đất trên để ưu tiên thi hành án; chỉ yêu cầu anh V, chị D trả lại số tiền 1.060.000.000 đồng. Do đó căn cứ Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Cao Văn T, chị Trần Thị N đối với anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D trả số tiền 1.060.000.000 đồng; đình chỉ yêu cầu bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản phần đất trên để ưu tiên thi hành án.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên anh V, chị D phải chịu 43.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; anh T, chị N không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 47.800.000 đồng theo biên lai thu số: 0002089 ngày 23-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116; Điều 122; Điều 131; Điều 328 của Bộ luật Dân sự; Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Văn T, chị Trần Thị N đối với anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D trả số tiền 1.060.000.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi triệu) đồng.
  2. Buộc anh Trần Bạch Hải V và chị Lê Ngọc D có trách nhiệm trả cho anh Cao Văn T, chị Trần Thị N số tiền 1.060.000.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi triệu) đồng.
  3. Đình chỉ yêu cầu số tiền bồi thường gấp đôi 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản phần đất trên để ưu tiên thi hành án.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D phải chịu 43.800.000 đồng.
    • - Hoàn trả cho anh Cao Văn T, chị Trần Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 47.800.000 đồng theo biên lai thu số: 0002089 ngày 23-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.
  5. Kể từ ngày anh Cao Văn T, chị Trần Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Bạch Hải V, chị Lê Ngọc D chưa thi hành số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả cho anh T, chị N số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  6. Báo cho các đương sự biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đối các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - PKTNV TA tỉnh;
  • - VKSND TPTN;
  • - CCTHADS TPTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Lê Phan Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2023/DS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 158/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Văn Tuệ, chị Trần Thị Nga đối với anh Trần Bạch Hải Vương, chị Lê Ngọc Diện trả số tiền 1.060.000.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi triệu) đồng. 2. Buộc anh Trần Bạch Hải Vương và chị Lê Ngọc Diện có trách nhiệm trả cho anh Cao Văn Tuệ, chị Trần Thị Nga số tiền 1.060.000.000 (Một tỷ không trăm sáu mươi triệu) đồng. 3. Đình chỉ yêu cầu số tiền bồi thường gấp đôi 2.120.000.000 đồng và yêu cầu dùng tài sản phần đất trên để ưu tiên thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger