Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Yêm

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXXST-HS ngày ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: ĐINH QUANG A3, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn P và bà Đinh Thị H; Có vợ: Đỗ Thị Thanh N; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 25/12/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 07/8/2014, chấp hành xong hình phát chính; ngày 16/4/2013, đã chấp hành xong án phí (đã được xóa).

Ngày 06/6/2018, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 28/10/2021 chấp hành xong hình phát chính; ngày 24/9/2018, đã chấp hành xong án phí (đã được xóa).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay - Có mặt.

  1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ LAN A2, sinh năm 1997; Nơi đăng ký thường trú: Tổ E, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Phòng B, Chung cư I, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc

tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Có chồng: Lê Đức L1 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay - Có mặt.

  1. Họ và tên: ĐẶNG THẾ H3, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Xóm T, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Thế T và bà Hoàng Thị M; Có vợ: Ngô Ngọc H2; Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2023 đến nay - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Minh P1, sinh năm 1992
  2. Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.

  3. Chị Phạm Thị Thúy A1, sinh năm 1995
  4. Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 23/11/2023, Tổ công tác công an xã V tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ B3911, Chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tại thời điểm kiểm tra trong phòng có Đặng Thế H3 và Nguyễn Thị Lan A2. Tổ công tác đã phát hiện trong phòng ngủ: 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 24cm; 02 tẩu tự chế bằng tiền Việt Nam, mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng; 01 thẻ đen có chữ GUCCI. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản đưa Nguyễn Thị Lan A2, Đặng Thế H3 về trụ sở để tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc.

Ngoài ra còn tạm giữ:

Của Nguyễn Thị Lan A2: 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu trắng, không lắp sim và 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, lắp sim số thuê bao 0869801915.

Của Đặng Thế H3: 01 điện thoại di động Samsung, màu đen, lắp sim số thuê bao 0942525555; 01 điện thoại di động Iphone X, màu bạc, lắp sim số thuê bao 0968813633.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập những người có liên quan lên làm việc và tạm giữ:

Của Phạm Thị Thúy A1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp sim số thuê bao 0986940109.

Của Nguyễn Minh P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp sim số thuê bao 0345120027.

Ngày 02/12/2023, Phòng K, Công an thành phố H, có bản Kết luận giám định số 7863/KL-KTHS, kết luận: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cứng, đều dính ma túy loại Ketamine.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở: của Đinh Quang A3 tại thôn C, xã T, huyện Đ không phát hiện thu giữ gì; của Nguyễn Thị Lan A2 tại căn hộ B, chung cư I thuộc xã V, huyện Đ phát hiện tạm giữ 10 quả bóng bay màu vàng đã qua sử dụng.

Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Thị Lan A2, Đặng Thế H3 có kết quả dương tính với chất ma túy MDMA, Methamphetamine.

Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Đinh Quang A3 có kết quả dương tính với chất ma túy loại MDMA, Heroine.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/11/2023, Đặng Thế H3 đến căn hộ B, Chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Lan A2, trong căn hộ có Nguyễn Thị Lan A2; Hoàng Sơn T1, sinh năm 1993 (Nơi thường trú: Xóm Thượng, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội); Nguyễn Minh P1, sinh năm 1992 (Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội); Phạm Thị Thúy A1, sinh năm 1995 (Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội); Chử Hương G, sinh năm 1998 (Nơi thường trú: Tổ D, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội) và Đặng Văn T2, sinh năm 1992 (Nơi thường trú: Tổ F, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội) đang ngồi ăn uống. Sau khi mọi người ăn uống xong, T2 rời khỏi căn hộ, những người còn lại đi vào phòng ngủ lớn trong căn hộ B3911 của Lan A2 để nghỉ và nghe nhạc, P1 và H3 ngồi nói chuyện ở phòng khách. P1 nói với H3 về việc Đinh Quang A3 đang đi đến căn hộ B. Một lúc sau, Quang A3 đến thì H3 xuống đón và đưa lên căn hộ. Tại phòng khách, Quang A3 bỏ ma túy “ke” ra đĩa, “xào ke” và mang vào phòng ngủ của Lan A2. Tại phòng ngủ của Lan A2, Quang A3 mời H3, Lan A2 và những người có mặt trong phòng cùng sử dụng ma túy.

Đến khoảng 01 giờ ngày 23/11/2023, H3 sử dụng tài khoản Facebook “Hải Đặng” của mình nhắn tin đến tài khoản “Đinh Anh” của Quang A3 đặt mua 02 chỉ ma túy “ke”. Quang A3 đồng ý và báo giá là 6.000.000 đồng, H3 đồng ý và chuyển khoản 6.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T3 số 15860667338 của H3 đến số tài khoản ngân hàng V số 1219926886 của Đinh Quang A3. Khoảng 01 tiếng sau Quang A3 gọi điện bảo H3 xuống sảnh lấy ma túy. H3 xuống gặp Quang A3 dưới sảnh của chung cư I lấy ma túy “ke”, rồi mang lên căn hộ trên sử dụng. H3 sử dụng khoảng 05 đường ma túy "ke", Lan A2 nhìn thấy H3 sử dụng và cũng tham gia sử dụng ma túy. Sau đó, H3 và Lan A2 đi ngủ cho đến khi lực lượng Công an đến kiểm tra. Lúc này chỉ còn H3 và Lan A2 trong phòng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan lên làm việc. Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Phạm Thị Thúy A1, Nguyễn Minh P1, Chử Hương G và Hoàng Sơn T1 đều có kết quả là âm tính với chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, sau khi bị cơ quan điều tra bắt giữ, ban đầu Đinh Quang A3 không khai nhận hành vi phạm tội của mình, không thừa nhận việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 21/11/2023 tại căn hộ B, chung cư I thuộc xã V, huyện Đ và không thừa nhận việc bán 02 chỉ ma túy “ke” cho Đặng

Thế H3. Sau đó, Đinh Quang A3 nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình nên đã thay đổi lời khai và khai nhận: Rạng sáng ngày 21/11/2023, Quang A3 đến căn hộ B. Quá trình có mặt tại phòng khách của căn hộ, Quang A3 có uống rượu cùng với H3, Lan A2, P1, T1, Thúy A1, G. Khi uống rượu xong, Quang A3 có lấy đĩa sứ trên trạn bát tại căn hộ của Lan A2 và đổ ma túy “ke” chuẩn bị từ trước vào đĩa sứ, quấn tẩu bằng 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng và thẻ cứng mang vào phòng ngủ của Lan A2. Tại đây, Quang A3 sử dụng ma túy “ke”, mời Lan A2, H3 và những người có mặt trong phòng sử dụng ma túy. Quang A3 có nhìn thấy Lan A2 và H3 sử dụng ma túy, những người khác thì Quang A3 không thấy. Quang A3 ngồi nghe nhạc đến sáng cùng ngày thì đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ ngày 21/11/2023, Quang A3 tiếp tục đưa hai người phụ nữ tên “Chip” và “Mun” (không rõ tên tuổi, địa chỉ) vào căn hộ trên và có sử dụng bóng cười tại trong căn hộ B3911, không sử dụng ma túy. Đến sáng ngày 22/11/2023, H3 gọi điện thoại cho Quang A3 nhờ Quang A3 mua nước ngọt. Quang A3 đồng ý. Do cần tiền mua nhạc “DJ” nên Quang A3 đã vay H3 số tiền 3.500.000 đồng và nhờ H3 chuyển đến tài khoản ngân hàng V số 0985587187 mang tên “DAO THỊ PHUONG THAO” nên H3 đồng ý. Sau đó, Quang A3 mang nước ngọt mua được đến căn hộ B3911, đưa cho H3 và đi về.

Đến sáng ngày 23/11/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đặng Thế H3 đã hỏi mua của Quang A3 02 chỉ ma túy “ke”. Quang A3 đồng ý. Do có sẵn ma túy được khách cho từ trước (Quang A3 không rõ nhân thân, lai lịch của người đã cho ma túy) nên Quang A3 báo giá cho H3 6.000.000 đồng. H3 đồng ý và đã chuyển khoản số tiền trên từ tài khoản 15860667338 mở tại Ngân hàng T3 của H3 đến tài khoản 1219926886 mở tại ngân hàng V của Đinh Quang A3. Một lúc sau, Quang A3 đến trước sảnh B chung cư Intracom R gọi điện cho H3 xuống giao dịch ma túy. Sau khi giao dịch ma túy xong với H3, Quang A3 đi về nhà.

Sau đó, khi biết tin Cơ quan Công an triệu tập nên ngày 25/11/2023 Quang A3 đã bỏ trốn sang nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào qua cửa khẩu C. Vào khoảng giữa tháng 3/2024 Quang A3 đi từ Lào về Việt Nam và sống lang thang ở khu vực Hà Nội. Đến ngày 16/4/2024, khi đang sống lang thang tại khu đô thị V có địa chỉ tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công An bắt giữ

Tại cơ quan điều tra Đặng Thế H3 khai nhận tương đối phù hợp với lời khai của Đinh Quang A3 và tài liệu điều tra thu thập được. Quá trình điều tra, ban đầu Đặng Thế H3 khai sáng ngày 22/11/2023, H3 gọi điện thoại cho Quang A3 đặt mua “nước vui”. Quang A3 đồng ý và báo giá 3.500.000 đồng một túi “nước vui”. H3 đồng ý và chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng T3 số 15860667338 của H3 đến tài khoản ngân hàng V số 0985587187 mang tên “DAO THỊ PHUONG THAO”. Sau đó H3 thay đổi lời khai không biết “nước vui” là ma túy và không thừa nhận việc sử dụng nước vui, không biết ai mang nước vui đến. H3 khai nhận được Quang A3 mời sử dụng ma túy “ke” ngày 21/11/2023 và nhìn thấy Lan A2 có sử dụng ma túy “ke” cùng H3 còn những người khác có sử dụng hay không H3 không biết. H3 cũng thừa nhận việc mua

ma túy của Quang A3 ngày 23/11/2023, đổ ra đĩa sứ có sẵn trong phòng ngủ của Lan A2 và nhìn thấy Lan A2 có sử dụng ma túy. Sau đó, H3 đi ngủ, có ai khác sử dụng không thì H3 không rõ. Đến sáng ngày 23/11/2023 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đặng Thế H3 và Đinh Quang A3 đối chất để làm rõ việc mua bán nước vui ngày 22/11/2023. Kết quả: Đinh Quang A3 không thừa nhận việc bán nước vui cho H3. Đặng Thế H3 thay đổi lời khai với lý do là nhớ nhầm và khai lại ngày 22/11/2023 nhờ Quang A3 mua nước ngọt, chứ không mua ma túy nước vui. H3 có cho Quang A3 vay tiền số tiền 3.500.000 đồng và chuyển khoản số tiền này đến tài khoản ngân hàng V số 0985587187 mang tên “DAO THỊ PHUONG THAO” để Quang A3 trả tiền mua nhạc. Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu khác liên quan đến việc các đối tượng mua bán, sử dụng ma túy loại “nước vui”. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ việc Đinh Quang A3 bán ma túy “nước vui” cho Đặng Thế H3 ngày 22/11/2023.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Lan A2 khai nhận phù hợp với lời khai của Đinh Quang A3, Đặng Thế H3, phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Lan A2 khai nhận căn hộ B3911, chung cư I là do Lan A2 và chị Nguyễn Hồng N1, sinh năm 2001 (Nơi thường trú: Thôn X, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội) thuê chung, chị N1 là người ký hợp đồng thuê nhà với bà Nguyễn Thị Hoài M1, sinh năm 1983 (Nơi thường trú: Phường C, quận B, thành phố Hà Nội) là chủ căn hộ B3911. Đến đầu tháng 11/2023, do không có nhu cầu ở căn hộ trên nên chị N1 đã chuyển đến địa chỉ số A N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội sinh sống nên Lan A2 là người quản lý sử dụng căn hộ trên. Ngày 21/11/2023 và ngày 23/11/2023, biết Đinh Quang A3 và Đặng Thế H3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong căn hộ B3911 do mình quản lý, nhưng Lan A2 vẫn đồng ý và cùng sử dụng ma túy với Đinh Quang A3 và Đặng Thế H3.

Đối với chị Nguyễn Hồng N1 không biết việc Nguyễn Thị Lan A2 để các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ B, chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị Lan A2 và các tài liệu điều tra thu thập được, do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị Hoài M1 là chủ căn hộ B3911, chung cư I không biết việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Minh P1, Chử Hương G, Hoàng Sơn T1 và Phạm Thị Thúy A1: Quá trình điều tra các đối tượng đều khai nhận không sử dụng ma túy, không thấy ai sử dụng ma túy và nhận thức không biết chất bột trên đĩa sứ là ma túy. Tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của các đối tượng trên đều âm tính với các chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với các đối tượng trên.

Đối với Đặng Văn T2, quá trình điều tra xác định T2 không có mặt trong căn hộ trong khoảng thời gian Đinh Quang A3, Đặng Thế H3 và Nguyễn Thị Lan A2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề

cập xử lý.

Đối với những người đã cho Đinh Quang A3 ma túy “Ke” do Quang A3 khai không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với việc sử dụng bóng cười của các đối tượng có liên quan trong vụ án, do chưa có chế tài xử phạt. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác định được người bán khí cười và bóng cười nên không có căn cứ đề cập xử lý.

Đối với 01 phong bì niêm phong được dán kín, bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Thế H3, bên trong chứa 02 tẩu hút tự tạo từ tờ tiền 10.000 đồng và 20.000 đồng đều dính ma túy Ketamine; 01 bao niêm phong bên ngoài có chữ ký của Đặng Thế H3, bên trong có chứa 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ màu đen có chữ GUCCI đều dính ma túy loại Ketamine; 06 điện thoại di động kèm sim và 10 quả bóng bay màu vàng đã qua sử dụng là vật chứng vụ án chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để giải quyết theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 150/CT-VKSÐA ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đinh Quang A3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan A2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đặng Thế H3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đinh Quang A3, Nguyễn Thị Lan A2 và Đặng Thế H3 khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo Đinh Quang A3, Nguyễn Thị Lan A2 và Đặng Thế H3 về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang A3 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là từ 09 năm 09 tháng đến 10 năm 09 tháng tù.
  • Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Lan A2 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Đặng Thế H3 từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Đề nghị xử lý các vật chứng và quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo trình bày: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về xây dựng lại cuộc sống và chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Đinh Quang A3, Nguyễn Thị Lan A2 và Đặng Thế H3 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nhau; phù hợp với Biên bản kiểm tra hành chính; Biên bản kiểm tra nhật ký điện thoại, tin nhắn; Sao kê tài khoản; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Kết quả trích xuất hình ảnh camera; Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/11/2023, Đinh Quang A3 có hành vi mang ma túy “ke” đến căn hộ B, chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội do Nguyễn Thị Lan A2 quản lý, để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị Lan A2, Đặng Thế H3. Ngoài ra, ngày 23/11/2023 Đinh Quang A3 còn có hành vi bán trái phép 02 chỉ ma túy “ke” cho Đặng Thế H3 với giá 6.000.000 đồng tại trước sảnh B, chung cư I để Đặng Thế H3 cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Nguyễn Thị Lan A2 tại căn hộ B3911. Nguyễn Thị Lan A2 biết và đồng ý cho Đinh Quang A3, Đặng Thế H3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào các ngày 21 và 23/11/2023 tại căn hộ B3911 do mình quản lý thì bị phát hiện, bắt giữ ngày 23/11/2023 tại chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đinh Quang A3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan A2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đặng Thế H3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.

Nội dung khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nội dung khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự luật quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;

[3] Xét tính chất đồng phạm và vai trò của từng bị cáo trong vụ án xét thấy: Đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc trước, do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo Đinh Quang A3 tự bỏ ma tuý mang theo người ra “xào ke” và mời H3 và Lan A2 sử dụng; bị cáo H3 thấy hết ma tuý đã mua của Quang A3 sử dụng cho bản thân và mời Lan A2 sử dụng; bị cáo Lan A2 là người quản lý, sử dụng địa điểm, biết Quang A3 và H3 tổ chức sử dụng ma tuý tại căn hộ của mình vì nể nang đã đồng ý nên đồng phạm với Quang A3 và H3. Các bị cáo Quang A3 và H3 chủ động bỏ ma tuý ra sử dụng nên có vai trò lớn hơn; bị cáo Lan A2 đồng ý cho sử dụng địa điểm, giúp sức cho các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên có vai trò thấp hơn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự; Bị cáo Quang A3 có ông ngoại tham gia cách mạng được tặng thưởng huân chương; bị cáo H3 có bố tham gia quân đội, bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Các bị cáo Lan A2 và H3 không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt; Bị cáo Quang A3 có tiền án, tuy đã được xóa nhưng không được xác định là có nhân thân tốt.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất dễ gây nghiện, tạo ảo giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng do ham chơi, tư lợi, coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên cần xét xử nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội

đồng xét xử cũng xem xét đến nguyên nhân, hoàn cảnh các bị cáo phạm tội xuất phát từ nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân, cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy và mua bán ma tuý; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mỗi bị cáo được hưởng và nhân thân của mỗi bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo và cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Đối với chị Nguyễn Hồng N1 không có mặt và không biết việc Nguyễn Thị Lan A2 để các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ B, chung cư I thuộc xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với bà Nguyễn Thị Hoài M1 là chủ căn hộ B3911, chung cư I không biết việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với Nguyễn Minh P1, Chử Hương G, Hoàng Sơn T1 và Phạm Thị Thúy A1: Quá trình điều tra các đối tượng đều khai nhận không sử dụng ma túy, không thấy ai sử dụng ma túy và nhận thức không biết chất bột trên đĩa sứ là ma túy; tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của các đối tượng trên đều âm tính với các chất ma túy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với các đối tượng trên là có căn cứ. Đối với Đặng Văn T2, quá trình điều tra xác định T2 không biết và không có mặt trong căn hộ trong khoảng thời gian Quang A3, H3 và Lan A2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với những người đã cho Đinh Quang A3 ma túy “Ke” do Quang A3 khai không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Đối với việc sử dụng bóng cười của các đối tượng có liên quan trong vụ án, do chưa có chế tài xử phạt. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác định được người bán khí cười và bóng cười nên không có căn cứ đề cập xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bao niêm phong bên ngoài có chữ ký của Đặng Thế H3, bên trong có chứa 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ màu đen có chữ GUCCI đều dính ma túy loại Ketamine; 10 quả bóng bay màu vàng đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 02 tẩu hút tự tạo từ tờ tiền 10.000 đồng và 20.000 đồng bên trong 01 phong bì niêm phong được dán kín, bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Thế H3 là tiền Việt Nam đồng; 02 điện thoại Iphone thu giữ của Nguyễn Thị Lan A2, 01 điện thoại Iphone kèm sim và 01 điện thoại Samsung kèm sim thu giữ của Đặng Thế H3 là công cụ, phương tiện phạm tội và tài sản của các bị cáo cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại Iphone kèm sim thu giữ của chị Phạm Thị Thúy A1 và 01 điện thoại Iphone kèm sim thu giữ của anh Nguyễn Minh P1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại chị Thúy A1 và anh P1.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đinh Quang A3, Nguyễn Thị Lan A2 và Đặng Thế H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Đinh Quang A3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang A3 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
  • - Căn cứ vào: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Lan A2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2023.
  • - Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Bị cáo Đặng Thế H3 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2023.
  • - Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên ngoài có chữ ký của Đặng Thế H3, bên trong có chứa 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ màu đen có chữ GUCCI đều dính ma túy loại Ketamine; 10 quả bóng bay màu vàng đã qua sử dụng có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền 10.000 đồng và 01 tờ tiền 20.000 đồng bên trong 01 phong bì niêm phong được dán kín, bên ngoài có chữ ký xác nhận của Đặng Thế H3; 01 điện thoại Iphone không lắp sim và 01 điện thoại Iphone kèm sim thu giữ của Nguyễn Thị Lan A2; 01 điện thoại Iphone kèm sim và 01 điện thoại Samsung kèm sim thu giữ của Đặng Thế H3 có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Trả lại chị Phạm Thị Thúy A1 01 điện thoại Iphone kèm sim thu giữ của chị Phạm Thị Thúy A1 và trả lại anh Nguyễn Minh P1 01 điện thoại Iphone kèm sim thu giữ của anh Nguyễn Minh P1 có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Các bị cáo Đinh Quang A3, Nguyễn Thị Lan A2 và Đặng Thế H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Quang A3 và đồng phạm - Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger