|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2024/HS-ST
Ngày 28 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Bình
Ông Vũ Xuân Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 16 tháng 5 năm 1992 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện nay: Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lê Văn L (sinh năm 1961) và con bà Quách Thị H1 (sinh năm 1963); bị cáo có vợ là Đinh Thị Kim O (sinh năm 1996) (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Lưu Mạnh C (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 19 tháng 4 năm 2001 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lưu Văn L1 (sinh năm 1962) và con bà Trần Thị C1 (sinh năm 1966); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Mai Hoàng T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 10 tháng 5 năm 1997 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Mai Văn L2 (sinh năm 1960) và con bà Đinh Thị H2 (sinh năm 1964); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Tùng L3, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Chị Mai Hồng N, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/07/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực cổng N1 tỉnh Sơn La thuộc tổ F, phường Q, thành phố S, đã phát hiện bắt quả tang Lê Văn H, sinh năm 1992 và Lưu Mạnh C, sinh năm 1992, đều trú tại tổ B, phường C, thành phố S, đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 11 viên nén màu hồng đồng dạng, H khai nhận là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 11 viên nén màu hồng đồng dạng.
- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ, đen, BKS 26K8 - 5518, số máy JC43E5610359, số khung RLHJC4327AY147760, đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S phiên bản MIUI, màu xám xanh, có số IMEL có 05 số cuối là 03897, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0977875492, trên sim có 05 số seri cuối là 94378 thu giữ của Lê Văn H.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu TCL 406s Model T506T, màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 81815, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0961633108, trên sim có 04 số seri cuối là 7863 thu giữ của Lưu Mạnh C.
Ngày 04/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và trích lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lê Văn H và Lưu Mạnh C, kết quả: 11 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói nilon màu xanh có tổng khối lượng là 1,10 gam, lấy 0,50 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H, còn lại 0,60 gam ký hiệu C niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Đến khoảng 15 giờ 00 ngày 08/7/2024, Mai Hoàng T đã đến Cơ quan cơ quan điều tra - Công an thành phố S đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội đã cùng với Lê Văn H và Lưu Mạnh C bàn bạc, góp tiền để mua ma túy về sử dụng vào ngày 04/7/2024. Cơ quan Công an tạm giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 10249, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0363926699, trên sim có 04 số seri cuối là 2338.
Tại Kết luận giám định số 1434/KL - KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,10 gam; loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/7/2024, Lê Văn H, sinh năm 1992, trú tại tổ C, phường C, thành phố S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, vỏ sơn màu đỏ đen BKS 26K8 - 5918 từ nhà đến nhà Mai Hoàng T, sinh năm 1997, trú tại tổ B, phường C, thành phố S để cùng T đi vào chợ N2, thuộc tổ B, phường C uống bia. Cả hai ngồi ở quán B (không nhớ tên quán) đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày thì H bảo với T ra khu vực cổng trường Cao đẳng Sơn La ngồi uống nước, T nhất trí, H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, vỏ sơn màu đỏ đen BKS 26K8 - 5918 phía sau chở T ra quán đối diện cổng trường Cao đẳng S ngồi uống nước được một lúc thì thấy Lưu Mạnh C, nhà ở tổ B, phường C, thành phố S đi xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 26A - 071.56 đến rồi cùng ngồi uống nước với H và T. Sau khi ngồi uống nước được một lúc, T rủ H và C góp tiền đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng, H, C đồng ý, H sử dụng ứng dụng A trên điện thoại của H chuyển số tiền 300.000VNĐ từ tài khoản của H có số 7901205083435 đến tài khoản V của T có số 3363926699, nhưng tài khoản của T không rút được tiền nên T chuyển ngược lại số tiền 800.000VNĐ vào tài khoản của H (trong đó 300.000VNĐ là tiền của H, còn 500.000VNĐ là tiền của T, C không góp đồng nào). Sau khi H nhận được tiền, cả ba thống nhất để C sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, vỏ sơn màu đỏ đen BKS 26K8 -5918 của H chở H ra cây ATM của Ngân hàng A gần ngã ba chợ N2, phường C, thành phố S để rút tiền, còn T đi xe mô tô của C về nhà T chờ. Sau khi rút được tiền, H bảo C điều khiển xe máy chở H đi lên khu vực tổ F, phường Q, thành phố S tìm mua ma túy, khi đi đến khu vực cổng Cung văn hóa thiếu nhi tỉnh Sơn La thuộc tổ F, phường Q, thành phố S, H bảo C dừng đỗ xe mô tô ở ven đường chờ, còn H một mình đi bộ vào trong sân Cung văn hóa thiếu nhi tỉnh Sơn La, khi đi được khoảng 50 mét, H gặp 01 người nam giới tên là C2 (H không biết họ, ngày tháng năm sinh và địa chỉ của C2 ở đâu) do có quen biết với C2 từ trước nên sau khi trao đổi, H mua được chỗ C2 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 11 viên ma túy Hồng phiến với giá 800.000VNĐ. Mua bán xong, C2 bỏ đi đâu H không biết, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra chỗ C đang đứng đợi, khi H vừa ngồi lên phía sau xe mô tô và bảo C chở về nhà T để cùng nhau sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Còn T sau khi về nhà chờ không thấy H và C quay lại nên đã mang xe máy trả cho mẹ của C rồi bỏ đi lang thang, không về nhà. Đến ngày 08/7/2024, T đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố S đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cùng với H và C.
Thực hiện điều tra đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn H tên là C2, ngoài lời khai của H, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, điều tra, xử lý theo vụ án.
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K8 – 5918 tạm giữ của Lê Văn H khi bắt quả tang là tài sản của anh Nguyễn Tùng L3, trú tại tổ B, phường C, thành phố S (là anh rể của H).
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 10249 thu giữ của Mai Hoàng T là tài sản hợp pháp chị Mai Hồng N (là chị gái của T).
Tại bản cáo trạng số: 416/CT-VKSTP ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố các bị cáo Lê Văn H, Lưu Mạnh C, Mai Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Lưu Mạnh C, Mai Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Mai Hoàng T từ 19 (mười chín) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn H từ 18 (mười tám) đến 22 (hai mươi hai) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Mạnh C từ 17 (mười bảy) đến 22 (hai mươi hai) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu huỷ: 0,60 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu xanh; 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0363926699 của Mai Hoàng T, 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0977875492 của bị cáo Lê Văn H.
- Trả lại cho anh Nguyễn Tùng L3 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K8 - 5918, số máy JC43E5610359, số khung RLHJC4327AY147760, xe cũ đã qua sử dụng; trả lại cho chị M Hồng Nhung 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 10249; trả lại cho bị cáo Lưu Mạnh C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TCL 406s Model T506T, màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 81815, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0961633108, trên sim có 04 số seri cuối là 7863.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S phiên bản MIUI, màu xám xanh, có số IMEL có 05 số cuối là 03897 của bị cáo Lê Văn H.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tùng L3 không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Mai Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra chị N đã có lời khai đầy đủ, trong đơn xin xét xử vắng mặt, chị N khẳng định không thay đổi lời khai so với lời khai tại cơ quan điều tra. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Ngày 04/7/2024, Lê Văn H và Lưu Mạnh C đã có hành vi cất giữ trái phép 1,10 gam Methamphetamine, đến ngày 08/7/2024, Mai Hoàng T đã đến đầu thú tại cơ quan điều tra về hành vi đã cùng với Lê Văn H và Lưu Mạnh C thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng:
- Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà.
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 40 phút ngày 04/7/2024 tại tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lê Văn H và Lưu Mạnh C cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 11 viên nén màu hồng đồng dạng, H khai nhận là ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.
- Biên bản niêm phong vật chứng;
- Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại;
- Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú ngày 08/7/2024 đối với Mai Hoàng T.
- Kết luận giám định số 1434/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S;
- Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của anh Phan Thành L4, sinh năm 2001, trú tại tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn H, Lưu Mạnh C, Mai Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do ham muốn sử dụng chất ma túy, các bị cáo đã coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vẫn cố tình phạm tội. Các bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 1,10 gam, loại Methamphetamine, đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.
Các bị cáo Lê Văn H, Lưu Mạnh C, Mai Hoàng T đã cùng nhau cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 1,10 gam chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là đồng phạm giản đơn, trong đó: Mai Hoàng T giữ vai trò chính (trực tiếp rủ, góp tiền nhiều nhất để H và C đi tìm mua ma túy), Lê Văn H là người thực hành tích cực (trong đó, H là người góp tiền cùng với Mai Hoàng T, chủ động đi rút tiền, là người trực tiếp mua ma túy và cất giữ ma túy trên tay đến khi bị bắt quả tang), cùng với Lưu Mạnh C là người giúp sức để đi tìm mua ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây nguy hiểm cho xã hội, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do nghiện ma túy và kinh tế của gia đình các bị cáo, mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy các tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo theo mức độ thực hiện hành vi là có căn cứ và phù hợp, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lê Văn H và Lưu Mạnh C đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong việc khai thêm đồng phạm Mai Hoàng T, do đó, xét cho các bị cáo Lê Văn H và Lưu Mạnh C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Văn H có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì; bị cáo Mai Hoàng T có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba và ông ngoại được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì; sau khi các bị cáo Lê Văn H và Lưu Mạnh C bị bắt giữ và khai ra đồng phạm Mai Hoàng T, T đã chủ động đến đầu thú tại cơ quan điều tra. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo Lê Văn H và Mai Hoàng T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, do đó, khi lượng hình, cần cân nhắc mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh tài sản và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xác định: Các bị cáo đều sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, bản thân các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; các bị cáo Lê Văn H và Lưu Mạnh C bị tạm giữ, giam từ ngày 04/7/2024; bị cáo Mai Hoàng T bị tạm giữ, giam từ ngày 08/7/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[9] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Lê Văn H khai mua được của một người nam giới tên C2 (mặc dù quen biết từ trước nhưng H không biết họ, năm sinh và địa chỉ của C2 ở đâu) tại khu vực sân Cung văn hóa thiếu nhi tỉnh Sơn La thuộc tổ F, phường Q, thành phố S, sau khi mua bán ma túy xong, C2 đi đâu H không biết. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.
[10] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,60 (không phẩy sáu mươi) gam Methamphetamine ký hiệu là C hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh là vật chứng không có giá trị sử dụng; 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0363926699, trên sim có 04 số seri cuối là 2338, đã qua sử dụng của bị cáo Mai Hoàng T và 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0977875492 của bị cáo Lê Văn H là vật chứng các bị cáo dùng để chuyển tiền mua ma túy, không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K8 - 5918, số máy JC43E5610359, số khung RLHJC4327AY147760 là tài sản riêng của anh Nguyễn Tùng L3, khi cho H mượn xe anh L3 không biết việc H sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, anh L3 đề nghị được xin lại chiếc xe máy, do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần trả lại chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Tùng L3.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 10249, đã qua sử dụng, tài sản hợp pháp chị Mai Hồng N, khi cho T mượn điện thoại chị N không biết việc T sử dụng chiếc điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị N đề nghị được xin lại chiếc điện thoại. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần trả lại chiếc điện thoại trên cho chị Mai Hồng N.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TCL 406s Model T506T, màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 81815, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0961633108, trên sim có 04 số seri cuối là 7863 tịch thu của bị cáo Lưu Mạnh C, quá trình điều tra xác định bị cáo không dùng điện thoại vào việc phạm tội, tại phiên tòa, bị cáo xin được trả lại, do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S phiên bản MIUI, màu xám xanh, có số IMEL có 05 số cuối là 03897 là tài sản hợp pháp của bị cáo Lê Văn H, H đã sử dụng chiếc điện thoại trên để thực hiện việc chuyển tiền và góp tiền để mua ma túy, do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Mai Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Hoàng T 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 08/7/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/7/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Mạnh C 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/7/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: 0,60 (Không phẩy sáu mươi) gam Methamphetamine còn lại sau giám định, ký hiệu là C; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu xanh; 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0977875492, trên sim có 05 số seri cuối là 94378, đã qua sử dụng; 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0363926699, trên sim có 04 số seri cuối là 2338, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10S phiên bản MIUI, màu xám xanh, có số IMEL có 05 số cuối là 03897, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho anh Nguyễn Tùng L3 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại RSX, sơn màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K8 - 5518, số máy JC43E5610359, số khung RLHJC4327AY147760, xe cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho chị Mai Hồng N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 10249, điện thoại đã qua sử dụng cũ.
- Trả lại cho bị cáo Lưu Mạnh C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu TCL 406s Model T506T, màu đen, có số IMEL có 05 số cuối là 81815, bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel có số thuê bao 0961633108, trên sim có 04 số seri cuối là 7863, đã qua sử dụng.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Văn H, Lưu Mạnh C, Mai Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) đối với mỗi bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tùng L3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Mai Hồng N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Thị Mai Hương |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
