Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HS-PT

Ngày: 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền.

Bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T- Kiểm sát viên.

Ngày 27/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 163/2024/TLPT-HS ngày 17/6/2024 đối với các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1, do có kháng cáo của các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Thị L1, Vi Văn C và Ma Văn C1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HSST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Các Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ tên: MA VĂN TIẾN; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1987 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ, đã bị khai trừ theo Quyết địn thi hành ký luật số 145-QĐ/UBKTHU ngày 04/4/2024 của Uỷ ban kiểm tra huyện ủy L3; nghề nghiệp: lao động tự do; bố đẻ: Ma Văn N, sinh năm 1962 (Đã chết); mẹ đẻ: Vy Thị C2, sinh năm 1961; vợ: Chu Thị Á, sinh năm 1988; con: có 02 (hai) con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ tên: CHU VĂN THAO; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 02 tháng 7 năm 1986 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Chu Văn H, sinh năm 1967 (Đã chết); mẹ đẻ: Hoàng Thị L2, sinh năm 1965; vợ: Trần Thị T3, sinh năm 1990; con: có 04 (bốn) con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

3. Họ tên: CHU VĂN SÁU; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 11 tháng 5 năm 1975 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 01/12; Đảng, đoàn thể: không; nghề nghiệp: lao động tự do; bố đẻ: Chu Văn V, sinh năm 1938; mẹ đẻ: Lăng Thị P, sinh năm 1938 (đã chết); vợ: Hoàng Thị H1, sinh năm 1970; con: có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

4. Họ tên: MA VĂN LẠI; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 03 tháng 8 năm 1985 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: không; nghề nghiệp: lao động tự do; bố đẻ: Ma Văn S1, sinh năm 1961; mẹ đẻ: Chu Thị N1, sinh năm 1961; vợ: Vi Thị T4, sinh năm 1985; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).

5. Họ tên: VI VĂN CƯỜNG; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 27 tháng 12 năm 1992 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; Đảng, đoàn thể: không; nghề nghiệp: lao động tự do; bố đẻ: Vi Văn P1, sinh năm 1965; mẹ đẻ: Trần Thị C3, sinh năm 1960; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).

6. Họ tên: MA VĂN CÚC; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 11 tháng 7 năm 1966 tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/10; nghề nghiệp: làm ruộng; bố đẻ: Ma Văn T5, sinh năm 1939; mẹ đẻ: Nông Thị Y, sinh năm 1939 (đã chết); vợ: Hoàng Thị B, sinh năm1965; con: Có 04 (bốn) con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/01/2024, gia đình anh Ma Văn T6, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L tổ chức làm cơm vào nhà mới và mời người thân trong gia đình đến dự. Khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu xong Ma Văn T1, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L cùng một số người khác rủ nhau lên tầng 2 nhà T6 để đánh bạc, Ma Văn T1 đã lấy dao và mảnh tre tại vườn nhà T6 để làm 04 quân vị bằng tre một mặt bôi đen, một mặt để nguyên dạng, rồi lấy 01 bát con bằng sứ và 01 đĩa bằng sứ từ chỗ để bát đĩa ở nhà T6 và mang lên phòng ngủ tại tầng 2 nhà T6 rồi để xuống chiếu đã rải sẵn dưới nền phòng ngủ, sau đó T1 đi xuống tầng 1 để đi vệ sinh rồi đi về nhà. Lúc này Chu Văn S, sinh năm 1975, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L bắt đầu cầm bát, đĩa làm xóc cái cho những người khác đánh bạc gồm: Ma Văn C4, sinh năm 1979; Ma Văn L, sinh năm 1985; Vi Văn C, sinh năm 1992; Ma Văn T7, sinh năm 1984; Ma Văn C1, sinh năm 1966 và Ma Văn T8, sinh năm 1986, đều trú tại thôn Đ, xã T, huyện L. Khoảng 10 phút sau, Chu Văn T2, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L đến thay S xóc cái cho mọi người đặt tiền đánh bạc. Khi những người này đang đánh bạc thì Ma Văn T1 quay lại tầng 2 nhà T6 thấy không có ai cầm bảng vị thì T1 đã nhặt tờ giấy có dòng kẻ ô ly và bút bi tại nơi đánh bạc rồi vẽ các ô số 1, 3, 4 làm bảng vị để cầm cho mọi người đặt tiền đánh bạc. Hình thức đánh bạc xóc đĩa

được thua bằng tiền như sau: Người xóc cái cho bốn quân vị được làm bằng tre vót nhỏ dẹt, một mặt được bôi màu đen, một mặt để nguyên dạng (các đối tượng gọi là mặt trắng) vào trong đĩa bằng sứ rồi lấy bát con bằng sứ úp lên. Sau đó người xóc cái xóc đều lên, mặt trắng, mặt đen lẫn lộn. Theo quy ước bên tay phải người xóc cái là bên chẵn, bên tay trái người xóc cái là bên lẻ, mặt chẵn gồm: 4 quân màu trắng, 4 quân màu đen hoặc 2 quân màu đen, 2 quân màu trắng; mặt lẻ gồm: 1 quân màu đen, 3 quân màu trắng hoặc 1 quân màu trắng, 3 quân màu đen. Tùy theo từng ván bạc mà đối tượng đặt cược bên chẵn, lẻ khác nhau, ai đặt cược bên nào thì đặt tiền bên đó, tỉ lệ được thua là 1/1 (ví dụ: Người chơi đặt cược 10.000 đồng bên chẵn hoặc bên lẻ nếu thua thì mất 10.000 đồng và nếu thắng được thêm 10.0000 đồng). Khi người xóc cái xong thì đặt bát xuống chiếu, các đối tượng bắt đầu đặt tiền cược, khi không còn ai đặt tiền nữa thì người xóc cái mở bát ra, nếu ván bạc là chẵn thì người xóc cái lấy tiền của những người đặt cược bên lẻ trả cho người đặt cược bên chẵn và ngược lại nếu ván bạc là lẻ thì người xóc cái lấy tiền của những người đặt cược bên chẵn trả cho người đặt cược bên lẻ. Trong ván bạc khi thanh toán chẵn, lẻ xong, số tiền còn thừa thì người xóc cái sẽ được hưởng, nếu thiếu tiền thì người xóc cái lấy tiền của mình trả cho người thắng. Ngoài ra những người đánh bạc còn có thể đánh bảng vị với Ma Văn T1, cụ thể: Bảng vị được T1 làm bằng tờ giấy kẻ ô ly, trong đó có các ô số 1, 3, 4 (tức là 1 đen hoặc 1 trắng; 3 đen hoặc 3 trắng; 4 đen hoặc 4 trắng). Người chơi đặt cược tùy ý từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Nếu người xóc cái mở bát ra mà quân cái thể hiện 02 quân trắng và 02 quân đen thì người cầm bảng vị thắng toàn bộ tiền của người chơi đặt cược ở các ô số trên bảng vị; Nếu người xóc cái mở bát ra mà quân cái thể hiện 01 quân đen, 03 quân đen, 04 quân đen hoặc 01 quân trắng, 03 quân trắng, 04 quân trắng thì người đặt cược thắng số tiền đã đặt trên bảng vị. Tỷ lệ thắng cược tại các ô số 1 và 3 là 1 ăn 2, nghĩa là đặt cược 10.000 đồng thì thắng được thêm 20.000 đồng; Còn tỷ lệ thắng cược tại ô số 4 là 1 ăn 5, nghĩa là đặt cược 10.000 đồng thì thắng được thêm 50.000 đồng. T1 sẽ lấy tiền của người thua trả cho người thắng, nếu thừa thì T1 được hưởng, nếu thiếu thì T1 phải bù vào để trả cho người thắng bạc. Quá trình các đối tượng nên trên đánh bạc thì có Ma Văn N2, sinh năm 1978, Chu Văn T9, sinh năm 1978 và Hoàng Văn D, sinh năm 1986, cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện L đứng xem, không tham gia đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc đến 14 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang, tuy nhiên chỉ bắt giữ được Chu Văn T2; Ma Văn T1; Ma Văn N2; Ma Văn L; Ma Văn C4; Chu Văn T9; Hoàng Văn D và Vi Văn C, còn Chu Văn S, Ma Văn T7, Ma Văn C1 và Ma Văn T8 bỏ chạy thoát. T10 tại chiếu bạc số tiền 6.450.000₫ (Sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) bát con bằng sứ, đáy bát có chữ Thái Bình; 01 (một) đĩa bằng sứ; 01 (một) chiếu cói đôi đã cũ; 04

(bốn) quân vị bằng tre một mặt bôi đen, một mặt để nguyên dạng; 01 (một) bảng vị làm bằng tờ giấy ô ly có các số 1,3,4; Các đối tượng giao nộp tổng số tiền 5.800.000₫ (Năm triệu tám trăm nghìn đồng); 07 (bẩy) điện thoại di động và 01 (một) xe mô tô, trong đó: Ma Văn N2 giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6S Plus, màu hồng bên trong máy lắp sim số 0949583760, có số imel: 355737075526671; Hoàng Văn D giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu bạc bên trong máy lắp sim số 0329361930, số imel 1: 352810094453517, số imel 2: 352810094453515; Ma Văn T1 giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy, M53G, màu ghi, bên trong máy lắp sim số 0865659234, số imel 1: 353041900365229, số imel 2: 358528660365220 và số tiền 3.650.000đ (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); Ma Văn C4 giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12C, màu đen trong máy không lắp sim, số imel 1: 866596066298803, số imel 2: 866596066298811; Chu Văn T2 giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus, màu vàng bên trong máy lắp sim số 0394881880, số imel: 353283070105247 và số tiền 2.150.000đ (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Chu Văn T9 giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đỏ bên trong máy lắp sim số 0866901429, số imel 1: 868683046057430, số imel 2: 868683046057422; Vi Văn C giao nộp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6S Plus, màu vàng bên trong máy không lắp sim, số imel: 355752072644542 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu trắng - đen, số khung 051450, số máy 816886, biển kiểm soát: 98E1 - 636.59. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trả tự do đối với Ma Văn N2, Chu Văn T9 và Hoàng Văn D. Ngày 12/01/2024 Ma Văn C1, Chu Văn S, Ma Văn T7 và Ma Văn T8 đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận về hành vi phạm tội, số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc, cụ thể như sau:

Chu Văn T2 khai khi tham gia đánh bạc có 2.150.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc, tuy nhiên do ván đầu đã thắng bạc nên T2 chưa bỏ số tiền này ra để đánh bạc mà vẫn cất trên người, khi bắt quả tang đã giao nộp.

Ma Văn T1 khai khi tham gia đánh bạc có 3.650.000 đồng, T1 bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T1 không thắng không thua, khi bị Công an phát hiện T1 cất số tiền 500.000 đồng vào trong túi. Khi bị bắt quả tang T1 đã lấy toàn bộ số tiền 3.650.000 đồng ra giao nộp, trong đó có 500.000 đồng là tiền đánh bạc, còn 3.150.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Ma Văn L khai có 300.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang L đã thua hết tiền.

Ma Văn C1 khai có 300.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang C1 thua còn 100.000 đồng đã bỏ xuống chiếu bạc.

Chu Văn S khai có 250.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang S đã thua hết số tiền trên.

Vi Văn C khai có 240.000 đồng sử dụng đánh bạc, C thả tiền hai lần, một lần 50.000 đồng và một lần 100.000 đồng đều thả bên lẻ và thua, thả tiền đánh bảng vị hai lần, một lần 60.000 đồng và một lần 30.000 đồng và thua hết số tiền mang theo.

Ma Văn T7 khai có 170.000 đồng sử dụng đánh bạc, T7 đặt cược hai ván vào bảng vị, mỗi ván là 50.000 đồng và đều thua, khi bị bắt quả tang còn 70.000 đồng đã bỏ xuống chiếu bạc.

Ma Văn C4 khai có 100.000 đồng sử dụng đánh bạc, C5 đặt cửa chẵn 2 lần, mỗi lần 50.000 đồng và đều thua.

Ma Văn T8 khai có 60.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang Thương đã thua mất 20.000 đồng, còn lại 40.000 đồng đã bỏ xuống chiếu bạc.

Tại bản cáo trạng số: 58/ CT-VKS-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo Chu Văn Thao, Ma Văn Tiến, Ma Văn Lại, Vi Văn C, Ma Văn C4, Chu Văn S, Ma Văn T8, Ma Văn T7, Ma Văn C1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HSST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Ma Văn T1 10 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Chu Văn T2 10 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn từ tỉnh từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ng 13/01/2024.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chu Văn S. Xử phạt: Chu Văn S 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ma Văn L.

Xử phạt: Ma Văn L 08 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024.

5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vĩ Văn C6. Xử phạt: Vi Văn C 08 tháng tù về

tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 13/01/2024.

6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ma Văn C1. Xử phạt: Ma Văn C1 08 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 03 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong:

- Ngày 13/5/2024 các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1 có đơn kháng cáo với nội dung: hình phạt của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn là quá cao, các bị cáo đều xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo trình bày:

• Bị cáo T1: án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo đã ủng hộ nông thôn mới số tiền 1.000.000đồng, bị cáo có hoàn cảnh khó khan, con nhỏ, mẹ già. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo T2 trình bày: xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Gia đình bị cáo có mẹ già, con nhỏ đang đi học, gia đình nghèo, bị cáo đã nộp tiền ủng hộ nông thôn mới số tiền 500.000đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo S trình bày: xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo còn cha già, các con còn nhỏ, bị cáo đã nộp tiền ủng hộ nông thôn mới cho xã 500.000đồng, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T13 giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động và sản xuất kinh doanh giỏi; bị cáo hiến hơn 200 m² đất để làm đường bê tông cho xã.

- Bị cáo L trình bày: bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì lý do bố mẹ già, con nhỏ, gia đình nghèo bữa no, bữa thiếu, bị cáo đã ủng hộ nông thôn mới 500.000đồng cho Ủy ban nhân dân xã T.

- Bị cáo C trình bày: bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo có bố mẹ già, bị cáo đang ở với bố mẹ, bị cáo đã ủng hộ nông thôn mới số tiền 500.000đồng tại Ủy ban nhân dân xã T.

- Bị cáo C1 trình bày: xác định án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là có đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng

án treo vì bị cáo nuôi bố già 86 tuổi bị cáo phải trông nom, bị cáo đã ủng hộ nông thôn mới số tiền 500.000đồng cho Ủy ban nhân dân xã T.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1. Sửa bản án sơ thầm, xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Ma Văn T11 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T12) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Chu Văn T2 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T12) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Chu Văn S 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Ma Văn L 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Vi Văn C 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Ma Văn C1 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo Ma Văn T1 nói lời sau cùng: bị cáo hứa không bao giờ cờ bạc nữa.

Bị cáo Chu Văn T2 nói lời sau cùng: bị cáo là người vùng sâu, vùng xa, không hiểu biết pháp luật, bị cáo đã biết lỗi và hứa không phạm tội nữa.

Bị cáo Chu Văn S nói lời sau cùng: bị cáo hứa không tái phạm.

Bị cáo Ma Văn L nói lời sau cùng: đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Vi Văn C nói lời sau cùng: bị cáo hứa không đánh bạc nữa.

Bị cáo Ma Văn C1 nói lời sau cùng: bị cáo hứa không đánh bạc nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1 nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định:

Khoảng 13 giờ ngày 10/01/2024, tại gia đình anh Ma Văn T6, sinh năm 2000 ở thôn Đ, xã T, huyện L, các đối tượng gồm Chu Văn T2, Ma Văn T1, Ma Văn L, Ma Văn C4, Vi Văn C, Ma Văn C1, Chu Văn S, Ma Văn T7 và Ma Văn T8 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau đến 14 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Thu giữ toàn bộ tiền, công cụ, phương tiện sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.100.000đồng.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về không gian, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Hành vi của các bị cáo Chu Văn T2, Ma Văn T1, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1 và Chu Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng người đúng tội, không oan sai.

Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của các bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt các bị cáo Ma Văn T1 10 tháng tù, Chu Văn T2 10 tháng tù, Chu Văn S 9 tháng tù, Ma Văn L 8 tháng tù, Vi Văn C 8 tháng tù và Ma Văn C1 8 tháng tù về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của của các bị cáo thì thấy:

[4.1] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm nhưng không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước nên là đồng phạm giản đơn.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ngoài ra còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc chơi bài dưới mọi hình thức được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lời và coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện.

[4.2]. Xét vai trò của bị cáo:

Bị cáo Ma Văn T1 tham gia chơi với số tiền lớn, là người chuẩn bị quân cái cho các bị cáo khác chơi và cầm bảng vị để chơi với các bị các khác. Nên xét thấy vai trò của bị cáo là cao cần áp dụng hình phạt cao hơn mức khởi điểm, cao hơn so với các bị cáo khác.

Bị cáo Chu Văn T2 là người tham gia chơi bạc với số tiền lớn nhất và làm chủ trò xóc cái cho các bị cáo khác chơi nên xét thấy cần áp dụng hình phạt cao hơn mức khởi điểm, cao hơn so với các bị cáo khác.

Bị cáo Chu Văn S tham gia đánh bạc với vai trò là xóc cái cho các bị cáo khác chơi, số tiền sử dụng đánh bạc ít hơn so với bị cáo T1, T2 nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp hơn so với bị cáo T1, T2.

Bị cáo Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1 tham gia với số tiền đánh bạc ít, nên các bị cáo này có vai trò không đáng kể trong vụ án.

[4.3]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân: các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo S và bị cáo C1 đã đến Cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định diểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo nộp thêm tài liệu chứng cứ mới là các biên lai về việc nộp tiền ủng hộ cho nông thôn mới xã T, bị cáo S có nhiều giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong họp tập, lao động và sản xuất, kinh doanh giỏi.

Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo.

Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thấm, các bị cáo đồng phạm giản đơn, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, số tiền đánh bạc không lớn, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòà các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét, thấy các bị cáo đủ điêu kiện được hưởng an treo theo Nghị quyết số 02/VBHN - TAND TC ngày 07/9/2022 nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4.4]. Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi nhưng là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4.5]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Ma Văn T11, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1, sửa bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do kháng cáo các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1. Sửa bản án sơ thẩm, xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1.

Xử phạt:

1.1. Bị cáo Ma Văn T1 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.2. Bị cáo Chu Văn T2 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.3. Bị cáo Chu Văn S 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.4. Bị cáo Ma Văn L 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.5. Bị cáo Vi Văn C 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01(Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.6. Bị cáo Ma Văn C1 08 (T12) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội "đánh bạc", thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1 cho Uy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thâm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - CA, VKS, TA huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBKT huyện uỷ huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Triệu Thị Luyện Phạm Thị Minh Hiền

T THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 153/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C và Ma Văn C1. Sửa bản án sơ thẩm, xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Ma Văn T1, Chu Văn T2, Chu Văn S, Ma Văn L, Vi Văn C, Ma Văn C1.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger