|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày 26-4-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đỗ Văn Sơn – Cán bộ hưu trí
- Ông Nguyễn Văn Hiệp – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST – HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
B C Y, sinh năm 1998 tại bản Nà Hát, xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản Nà Hát, xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bạc Cầm Th và bà Lò Thị P; Có vợ là Quàng Thị Y và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay.
Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hải – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh.
Có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Đỗ Cường Dũng – Cán bộ tin học của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh. Có mặt
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
B C Y là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 25/12/2023 Yêm đi bộ từ chỗ trọ tại khu Xuân Ô A, phường Võ Cường đến khu Hòa Đình, phường Võ Cường thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Yêm gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1 triệu đồng đồng ma túy heroine, Yêm cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Yêm đã tự nguyện giao nộp một túi nilong màu trắng, Yêm khai đó là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tang vật thu giữ gồm 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, ngoài ra Công an không thu giữ gì khác.
Tại Kết luận giám định số: 163/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:
“+ Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 0,6770 gam; là ma túy; loại ma túy: Heroine (Heroin)."
Tại bản cáo trạng số: 88/CT– VKSTPBN ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố B C Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa B C Y thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và thừa nhận bản thân là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân. Ngày 25/12/2023, Yêm chưa kịp sử dụng ma túy thì bị bắt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: B C Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt B C Y từ 18 đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo
Bị cáo không trình bày lời bào chữa;
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh; về mức hình phạt người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo còn 2 con nhỏ cần phải nuôi dưỡng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, luôn tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ít nên đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm được trở về phụ giúp vợ nuôi dạy các con trưởng thành. Về các vấn đề khác, người bào chữa nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo nhất trí phần bào chữa của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.
Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, tại khu Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh, tổ công tác công an phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh đã phát hiện và bắt quả tang B C Y đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,6770 gam ma túy Heroine, với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó đã đủ cơ sở xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố B C Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, làm suy kiệt sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo Yêm là người có nhân thân tôt, bị cáo phạm tội lần này là lần đầu.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Về quyết định hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Xét thấy chỉ cần xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, và vẫn có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6]Về vật chứng của vụ án: - Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Yêm vào ngày 25/12/2023, qua xác minh tại Công an phường Võ Cường không có người nào có đặc điểm như Yêm đã miêu tả, Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau là phù hợp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo B C Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt B C Y 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.
- Căn cứ: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) Phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 163/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Toàn bộ vật chứng nêu trên được miêu tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Về án phí: Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp toàn bộ án phí HSST là 200.000 đồng cho B C Y.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoan |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
