TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2023/HS-ST Ngày 25-12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Biện Hữu Tấn;
- Bà Trần Thuý Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 189/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số: 439/2023/HPT-QĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Thông báo về việc dời phiên toà số: 99/TB-TA ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Phạm Minh K, sinh năm 1965, tại thành phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 453/163/7, Lê Văn K1, phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Số E, đường T, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Phạm Công T, sinh năm 1931 (Đã chết) và bà Võ Thị N, sinh năm 1938 (Còn sống); Gia đình bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1967 và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, Tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022, đến ngày 22/11/2022 chuyển tạm giam cho đến ngày 10/4/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh.
- Bị hại:
- 2.1. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1989.
- Nơi cư trú: Số D, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- 2.2. Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2003 (Đã chết).
- Nơi cư trú trước khi mất: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện diện hợp pháp của bị hại V: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1976 và bà Thân Thị Kim N1, sinh năm 1984 (ba mẹ ruột chị V).
Cùng nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp của bị hại V: Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1964.
Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo giấy uỷ quyền ngày 22/12/2022.
- Bị đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T9.
Địa chỉ: Số D, B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc K2, sinh năm 1974, chức vụ: Giám đốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Nhật T4, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Bị cáo K có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Minh K có giấy phép lái xe hạng D số [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 14/7/2022 có giá trị đến ngày 14/7/2027.
Vào khoảng 06 giờ 40 phút ngày 13/11/ 2022, K điều khiển xe ô tô khách biển số 72B-02634 lưu thông trên quốc lộ B hướng T - T. Khi đi đến khu vực km32 +200m, thuộc ấp P, xã L, huyện Đ, K đánh lái qua trái để vượt xe phía trước thì đụng vào xe ô tô biển số 72D-00246 do anh Nguyễn Thành T2 - sinh năm 1989, chở theo chị Nguyễn Thị Tường V - sinh năm 2003, cùng trú tại ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà rịa - Vũng Tàu, lưu thông ngược chiều gây tai nạn giao thông.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là đoạn đường thẳng có trải nhựa bê tông nóng, đường hai chiều, mỗi chiều đường rộng 5,5m, có vạch sơn tim đường màu vàng ngắt quảng phân làm hai chiều đường.
- Lấy mép đường bên trái theo hướng lưu thông từ Thông Nhất - T làm mép đường chuẩn; lấy trụ điện số 4335 nằm bên trong mép đường chuẩn và trụ điện số 282 nằm bên trong mép đường bên phải hướng lưu thông Thống Nhất - T làm 02 điểm mốc.
- Vị trí xe ô tô biển số 72D-00246 sau tai nạn toàn bộ thân xe nằm trên lề đường bên trái hướng lưu thông Thống Nhất - T; đầu xe hướng vào trong lề đường. Đầu trục bánh sau bên phải và đầu trục bánh sau bên trái cách mép chuẩn lần lượt là 0,6m và 0,8m. Đầu trục bánh trước bên phải cách mép chuẩn là 2,8m; đầu trục bánh sau bên trái cách trụ điện số 4335 là 18,3m.
- Vị trí đầu vết cày của xe ô tô biển số 72B-00246 có kích thước là 0,3m x 0,4m, vị trí trên cách mép chuẩn là 4,8m và cách điểm mốc trụ điện số 4335 là 22m.
- Vết cày của xe ô tô 72B-02634 kéo dài, đứt quảng trên mặt đường hướng sang phần đường bên phải hướng lưu thông T - T. Vết cày trên kéo dài 13,8m, điểm cuối vết cày cách mép đường bên phải là 1,85m.
- Vị trí xe ô tô biển số 72B-02634 sau tai nạn, toàn bộ thân xe nằm trên mặt đường; đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Thống Nhất; đầu trục bánh xe phía trước bên phải và đầu trục bánh xe bên phải cách trụ điện số 282 lần lượt là 10 m và 11,9m; đầu trục bánh xe phía trước bên phải và đầu trục bánh xe phía sau bên phải đều cách mép đường bên phải là 0,2m. Khoảng cách từ đầu trục bánh sau bên trái của xe đến trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 72D-00246 là 155m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn xác định:
- Đối với xe ô tô biển số 72D-00246: Xiềng chắn gió phía trước và xiềng chắn gió bên trái bị bể vỡ; Ốp chắn bánh xe phía trước bên trái (bên tài) và cửa bên trái bị cong vênh, xô lệch vào bên trong; Bánh xe bên trái phía trước bị rọi khỏi xe; Cản trước bên trái bị gãy vỡ ốp nhựa; Hệ thống máy, động cơ xe bị hư hỏng nhẹ.
- Đối với xe ô tô biển số 72B-02634: Xiềng chắn gió phía trước và xiềng chắn gió bên trái bị bể vỡ; Ốp chắn bánh xe phía trước bên trái (bên tài) và cửa bên trái bị cong vênh, xô lệch vào bên trong; Bánh xe bên trái phía trước bị rọi khỏi xe; Cản trước bên trái bị gãy vỡ ốp nhựa; Hệ thống máy, động cơ xe bị hư hỏng nhẹ.
Căn cứ vào kết luận giám định tư pháp số: 01/TTĐKXCN ngày 05/01/2023 của Trung tâm Đ1 kết quả giám định tình trạng an toàn kỹ thuật và tốc độ của xe ô tô biển số 72D-002.46 và xe ô tô biển số 72B-026.34 tại thời điểm sau khi xảy ra tai nạn như sau:
- Không thể giám định tình trạng an toàn kỹ thuật do xe ô tô biến dạng so với hiện trạng ban đầu;
- Tốc độ đối với xe ô tô biển số 72D-00246 và xe ô tô biển số 72B-026.34 khi xảy ra tai nạn không có cơ sở để xác định.
Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm phương tiện đã đủ cơ sở xác định xe ô tô biển số 72B-02634 do Phạm Minh K điều khiển đã không chú ý quan sát đã đánh lái qua phía bên trái đường khi vượt xe phía trước đụng vào xe ô tô biển số 72D-00246 do anh Nguyễn Thành T2 điều khiển chở theo chị Nguyễn Thị Tường V đi ngược chiều phía bên phải.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Phạm Minh K đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
* Hậu quả: Chị Nguyễn Thị Tường V được đưa đi cấp cứu và chết tại Bệnh viện Đ2 vào lúc 8 giờ 45 phút, ngày 13/11/2022.
Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 526/TT/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương;
- Chấn thương ngực gây gãy xương sườn, dập rách phổi hai bên, xuất huyết màng phổi hai bên, hai phổi xẹp, có máu loãng và máu đông trong lòng khí phế quản.
- Chấn thương sọ não gây xuất huyết màng mềm, dập não vùng đỉnh hai bên, xuất huyết cầu não tụt kẹt tiểu não.
Anh Nguyễn Thành T2 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2; Hai xe ô tô biển số 72B-02634 và xe ô tô biển số 72D-00246 bị hư hỏng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá huyện Đ, ngày 17/3/2022 kết luận tổng giá trị tài sản thiệt hại của xe ô tô biển số 72D-00246 là 59.606.710 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 xe ô tô biển số 72B-026.34, hiệu Hyundai, màu trắng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 (Công ty T9) do ông Trần Ngọc K2 – sinh năm 1974 làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho đại diện theo ủy quyền của Công ty T9 là ông Đỗ Phú T5 – sinh năm 1972, trú tại khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định;
- 01 xe ô tô biển số 72D-002.46, hiệu Chevrolet, màu trắng của ông Trần Văn N2. Quá trình điều tra xác định, xe ô trên đã được bán cho anh Lê Nhật T4 – sinh năm 1992, trú tại khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa - V, hiện chưa làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định. Anh T4 khai nhận đã cho anh Nguyễn Thành T2 mượn xe ô tô biển số 72D-002.46 để đi công việc và không biết việc xảy ra tai nạn vào ngày 12/11/2022 nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe ô tô cho anh Lê Nhật T4.
Về trách nhiệm dân sự:
- Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, đại diện Công ty T9 là ông và gia đình bị can Phạm Minh K3 đã tự nguyện bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Tường V. Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận số tiền trên và làm đơn xin bãi nại cho bị can Phạm Minh K3, cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì thêm;
- Đối với thương tích của anh Nguyễn Thành T2, đại diện Công ty T9 và gia đình bị can K3 đã đến thăm hỏi và bồi thường số tiền 120.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thành T2. Anh T2 đã nhận số tiền trên và làm đơn bãi nại và từ chối giám định thương tích, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Phạm Minh K3;
- Đối với thiệt hại của xe ô tô biển số 72D-00246 do tai vụ tai nạn giao thông gây ra, đại diện Công ty T9 đã bồi thường số tiền là 60.000.000 đồng theo yêu cầu của chủ sở hữu, ông Lê Nhật T4 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm;
- Đối với thiệt hại của xe ô tô biển số 72B-026.34, Công ty T9 không yêu cầu định giá tài sản thiệt hại và cam kết tự sửa chữa, không yêu cầu bị can Phạm Minh Kỳ bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số: 79/CT/VKSĐQ ngày 16 tháng 06 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Minh K3 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Viết tắt là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh K3 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo K3 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ và thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung gồm: Kết luận giám định nồng độ cồn của bị cáo K3, bị hại T2 ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông trong vụ án; trích xuất camara hành trình của xe ôtô khách hiệu Hyundai H350, biển số 72B – 02634 do bị cáo K3 điều khiển và xe ôtô tải Van hiệu Chevrolet Spark biển số 72D – 002.46 do bị hại T2 điều khiển; kết luận giám định tốc độ của hai xe nêu trên căn cứ vào việc T6 xuất camara hành trình của xe và tiến hành trưng cầu giám định về thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ đối với bị hại Nguyễn Thành T2 để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể; tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố, không điều tra, bổ sung thêm và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và bị hại, đại diện của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Đỗ Cao T7, Nguyễn Văn Q, Hoàng Anh T8; Phạm Thị Hồng H vắng mặt không có lý do tại phiên toà. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này, không ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo nên căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này.
- Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- [2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo Phạm Minh K3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 06 giờ 40 phút, ngày 13/11/2022, tại khu vực km32+200m quốc lộ B thuộc ấp P, xã L, huyện Đ, Phạm Minh K3 điều khiển xe ôtô biển số 72B-026.34 vượt xe phía trước nhưng không đảm bảo an toàn khi vượt xe nên đã đụng vào xe ôtô biển số 72D-00246 do anh Nguyễn Thành T2 điều khiển chở theo chị Nguyễn Thị Tường V lưu thông theo chiều ngược lại gây tai nạn giao thông. Hậu quả chị Nguyễn Thị Tường V chết tại Bệnh viện Đ2. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong bản tự khai/bản tường trình của bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, sơ đồ hiện trường dựng lại, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản lấy lời khai người làm chứng, biên bản xác minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Vì vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do bị cáo Phạm Minh K3 thực hiện nêu trên đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ.
- [2.2] Bị cáo không tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn và bị hại, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm của bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
- [2.4] Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, đã có bằng lái xe theo quy định nên nhận thức, hiểu biết được quy định pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, khi bị cáo điều khiển xe ôtô vượt xe khác lên phía trước, không đảm bảo an toàn dẫn đến gây tai nạn, hậu quả làm chết người và xâm phạm đến sức khoẻ của công dân. Hành vi phạm tội của bị cáo do lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, tạo tâm lý bất an cho những người tham gia giao thông. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo K3 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2022 đến ngày 10/4/2023 cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết nên áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự nhân đạo của phát luật nhà nước ta.
- Xử lý vật chứng:
- 01 xe ô tô biển số 72B-026.34, hiệu Hyundai, màu trắng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T9, Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho đại diện theo ủy quyền của công ty là ông Đỗ Phú T5;
- 01 xe ô tô biển số 72D-002.46, hiệu Chevrolet, màu trắng của ông Trần Văn N2. Quá trình điều tra xác định, xe ô trên đã được bán cho anh Lê Nhật T4, sinh năm 1992, trú tại khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa - V, hiện chưa làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định. Anh T4 khai nhận đã cho anh Nguyễn Thành T2 mượn xe ôtô biển số 72D-002.46 để đi công việc và không biết việc xảy ra tai nạn vào ngày 12/11/2022 nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe ôtô cho anh Lê Nhật T4.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự:
Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 và gia đình bị cáo Phạm Minh K3 đã tự nguyện bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Tường V. Đại diện gia đình bị hại V đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết;
Đối với thương tích của anh Nguyễn Thành T2, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 và gia đình bị cáo K3 đã đến thăm hỏi và bồi thường số tiền 120.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thành T2. Anh T2 đã nhận số tiền trên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết;
Đối với thiệt hại của xe ôtô biển số 72D-00246 do tai vụ tai nạn giao thông gây ra, đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng theo yêu cầu của chủ sở hữu, ông Lê Nhật T4 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với thiệt hại của xe ôtô biển số 72B-026.34, Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 không yêu cầu định giá tài sản thiệt hại và cam kết tự sửa chữa, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí theo quy định.
- Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 292, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh K3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh K3 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/12/2023).
Giao bị cáo K3 cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Bị cáo Phạm Minh K3 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo K3 được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại T2, đại diện hợp pháp của bị hại V, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật tại chính quyền địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 158/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 158/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh Kỳ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
