Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày 24 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Hồng Q, sinh năm 2002 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Tổ C, ấp K, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Trần Thị H1, sinh năm 1965; có 01 anh ruột sinh năm 2000; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay. Có mặt.
  2. Nguyễn Trần Thanh P, sinh ngày 17/5/2004 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Thôn G, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 và bà Trần Thị T, sinh năm 1979; có 01 em sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Hồ Thị Hồng N, sinh năm 1979; Thường trú: Số A đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  2. Chị Lương Thị Cẩm H2, sinh năm 2004; Thường trú: Số A đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Cháu Dương Thế K, sinh ngày 02/02/2008; thường trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  2. Người đại diện hợp pháp: Anh Dương Hoàng A, sinh năm 1989; thường trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: Hẻm B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  3. Anh Lê Duy C, sinh năm 1995; thường trú: Số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Nguyễn Trần Thanh P, Lê Hồng Q và Dương Thế K (sinh ngày 02/02/2008) đều không có nghề nghiệp, sống lang thang ở khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, P cùng K đi bộ từ tiệm Internet “Hội Tụ”, tại số A đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến phòng trọ của Q tại số B, đường B, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để rủ Q đi chơi game, thì Q đồng ý. Sau đó, cả ba đi bộ đến tiệm Internet “Hội Tụ”. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, thì đi ngang qua căn nhà của chị Hồ Thị Hồng N tại số A đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thấy căn nhà đang sửa chữa, không có khóa cửa, Q rủ P và K đột nhập vào trong nhà chị N tìm tài sản trộm cắp mang đi bán lấy tiền chia nhau, thì P và K đồng ý.

Để thực hiện ý định, P nói Q và K đứng ngoài cảnh giới, thì Q và K đi qua bên đường đối diện nhà chị N đứng canh chừng, cảnh giới, còn P lén lút đi vào bên trong nhà chị N tìm tài sản lấy trộm, khi P đi vào đến phòng ngủ thì nhìn thấy chị N và con gái là chị Lương Thị Cẩm H2 đang nằm ngủ trên giường, ở đầu giường có để 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max màu xanh của chị H2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc của chị N, P lén lút lấy trộm 02 điện thoại di động bỏ vào túi quần, rồi đi ra ngoài đường. Khi đi ra đến chỗ Q và K đang đứng P nói cho cả hai biết là vừa lấy trộm được 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc, rồi P lấy 02 chiếc điện thoại ra cho Q và K xem, xem xong P cất 02 chiếc điện thoại vào túi quần rồi cùng Q và K đi đến tiệm Internet “Hội Tụ” chơi game và ngủ tại tiệm.

Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, Q đi về phòng trọ, còn P và K ngủ lại tiệm Internet “Hội Tụ”, đến khoảng 08 giờ cùng ngày P và K ngủ dậy thì không thấy Q đâu, P và K mang 02 chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại “Duy Công Mobile”, địa chỉ số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc cho anh Lê Duy C được 2.800.000 đồng, P chia cho K 800.000 đồng, còn lại P giữ 2.000.000 đồng (dự định sẽ chia cho bị can Q 800.000 đồng, còn lại 400.000 tiền tiêu xài chung), số tiền trên P và K đã tiêu xài hết 200.000 đồng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, Q đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do Q, P và K cùng thực hiện tại Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi K và P quay về lại tiệm Internet “Hội Tụ” thì bị lực lượng Công an phường D bắt giữ đưa về trụ sở làm việc, thu giữ trong túi quần của P có 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128GB màu xanh và số tiền 1.900.000 đồng, thu giữ trong túi quần Kiệt số tiền 700.000 đồng. P và K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128GB màu xanh.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc.
  • Số tiền 2.600.000 đồng.
  • 01 USB ghi nhận sự việc tại cửa hàng điện thoại “Duy Công M”.
  • 01 USB ghi nhận sự việc mất trộm tài sản.

Theo Kết luận định giá tài sản số 12/BBĐG-HĐĐGTS ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128GB màu xanh trị giá 12.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc trị giá 3.000.000 đồng.

Ngày 25/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Trần Thanh P và Lê Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 147/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trần Thanh P và Lê Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Hồng Q từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Thanh P từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max màu xanh là tài sản của chị Lương Thị Cẩm H2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc là tài sản của chị Hồ Thị Hồng N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản cho chị H2 và chị N theo quyết định xử lý vật chứng số 1108 ngày 14/3/2024.
  • + Đối với số tiền 2.600.000 đồng là tiền của anh Lê Duy C mua điện thoại của P và K, anh C không biết điện thoại của P và K bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không tiến hành xử lý hình sự đối với anh C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại số tiền 2.600.000 đồng cho anh C theo quyết định xử lý vật chứng số 1108 ngày 14/3/2024.
  • + Đối với 01 USB ghi nhận sự việc tại cửa hàng điện thoại “Duy Công Mobile” và 01 USB ghi nhận sự việc mất trộm tài sản, lưu hồ sơ vụ án theo quy định.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Đối với Dương Thế K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản cùng với bị cáo P và Q. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội K chưa đủ 16 tuổi, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với K về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Căn cứ lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, Nguyễn Trần Thanh P và Lê Hồng Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128GB màu xanh, trị giá 12.000.000 đồng của chị Lương Thị Cẩm H2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc, trị giá 3.000.000 đồng của chị Hồ Thị Hồng N, tại số A đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15.000.000 đồng.
  3. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 147/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 4 năm 2024 của của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  4. Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn, mới tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
  5. Các bị cáo cùng tham gia trộm cắp tài sản, có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết trên được quy định tại Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q đầu thú, tình tiết trên được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  8. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  9. Trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra.
  10. Về xử lý vật chứng:
    • + Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max màu xanh là tài sản của chị Lương Thị Cẩm H2 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A34 màu bạc là tài sản của chị Hồ Thị Hồng N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản cho chị H2 và chị N là phù hợp.
    • + Đối với số tiền 2.600.000 đồng là tiền của anh Lê Duy C mua điện thoại của P và K, anh C không biết điện thoại của P và K bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không tiến hành xử lý hình sự đối với anh C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại số tiền 2.600.000 đồng cho anh C là phù hợp.
    • + Đối với 01 USB ghi nhận sự việc tại cửa hàng điện thoại “Duy Công Mobile” và 01 USB ghi nhận sự việc mất trộm tài sản, lưu hồ sơ vụ án theo quy định.
  11. Đối với Dương Thế K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản cùng với bị cáo P và Q. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội K chưa đủ 16 tuổi, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với K về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định.
  12. Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận. Đối với mức hình phạt đề nghị đối với các bị cáo là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
  13. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thanh P và Lê Hồng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Lê Hồng Q 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Thanh P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.
  2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  3. Các bị cáo Nguyễn Trần Thanh P và Lê Hồng Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, người có QL&NVLQ (06);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (02);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger