Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 158/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21-11-2023

V/v tranh chấp Ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân – Bà Lê Thị Thanh Vân
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên toà.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 512/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp Ly hôn, con chung"

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 507/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/10/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 494/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/11/2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1994; có đơn xin vắng mặt
  • Địa chỉ: 1, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0348.501.xxx
  • - Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1990; vắng mặt
  • Địa chỉ: D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0879.244.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau quá trình quen biết tìm hiểu nhau, ông T và bà H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L năm 2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do ông T không chăm lo làm ăn mà ham chơi gây nợ nần nhiều lần, dù đã nhiều lần khuyên can nhưng ông T vẫn không sửa đổi.

Ông bà ly thân từ tháng 2/2023 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn T.

Về con chung: vợ chồng có 01 (một) con chung tên là Lê Quốc H1 sinh ngày 01/7/2021. Hiện cháu đang sống cùng mẹ. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Quốc H1, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị đơn ông Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng ông không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T, địa chỉ cư trú của ông T thuộc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị H và ông Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Bà H và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/5/2021 tại UBND phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T để ông thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Cha mẹ ông T cùng nơi cư trú với ông T đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng và giao lại cho ông tuy nhiên cho đến nay ông T vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.

[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau. Thời gian mâu thuẫn và ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay mà ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn. Nay bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, ông T thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng ông T vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà H. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của bà H với ông T là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Lê Quốc H1, sinh ngày 01/7/2021, hiện đang sinh sống cùng bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông T không có ý kiến về người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu H1 đang do bà H nuôi dưỡng, nay bà cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo ổn định trong cuộc sống sinh hoạt cho con chung, đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[2.5] Bà H và các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

[2.6] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị H ly hôn với ông Lê Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 57, ngày 24 tháng 5 năm 20213 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho bà H và ông T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Ông T và bà H có 01 (một) con chung tên Lê Quốc H1, sinh ngày 01/7/2021. Giao con chung Lê Quốc H1 cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét giải quyết.

Bà H và các thành viên gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002292 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Lê Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Bà Võ Thị H và ông Lê Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp;
  • - Ủy ban nhân dân xã/phường;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2023/HNGĐ-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 158/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger