Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:158/2023/HS - ST

Ngày 21/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thuỷ

Bà Ngô Thị Yêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh- Kiểm sát viên

Ngày 21/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2022/TLST - HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Vương Xuân H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1995 tại: Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Vương Xuân A bà Nguyễn Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ từ 20/4/2023; Tạm giam từ ngày 28/4/2023 cho đến nay; Có mặt tại phiên toà;
  2. Họ tên: Phan Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1990 tại: Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Đ, thôn H, xã K, huyện Đ, T, Hà Nội; Nghề nghiệp:Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Văn L1 và bà Ngô Thị H2; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ 20/4/2023; Tạm giam từ ngày 28/4/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà;
  3. Họ tên: Nguyễn An B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1995 tại: Hà Nội; HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Văn hoá:12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Minh K và bà Nguyễn Thị Lan O; Vợ: Nguyễn Thị T; Có 02 con lớn sinh 2016, nhỏ sinh 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ 20/4/2023 đến 28/4/2023; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà;
  4. Người bị hại: Công ty cổ phần C1 (viết tắt: Công ty C1) địa chỉ kho tại: Thôn C, xã K, huyện Đ, Hà Nội; Đại diện theo uỷ quyền của người bị hại: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1996 - Chuyên viên pháp chế của Công ty Vietstar
  5. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Nguyễn Văn H4, sinh 1974; trú tại thôn H, xã K, C, huyện Đ; Vắng mặt.
    2. Anh Nguyễn Văn H5, sinh 1989; trú tại Thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
    3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh 1983; trú tại xã T, huyện S, Hà Nội; Vắng mặt.
    4. Anh Trương Khắc G, sinh 1978 ở thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội; Vắng mặt.
    5. Anh Ngô Văn T1, sinh 1993; trú tại thôn Y, xã T, huyện M, Hà Nội; Vắng mặt.
    6. Anh Kim Văn T2; trú tại, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
    7. Anh Vương Quốc V, sinh năm 1985; trú tại thôn M, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội; Có mặt.
    8. Anh Nguyễn Văn H6, sinh 1987; tại thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/03/2023, Công ty cổ phần C1 (viết tắt: Công ty C1) địa chỉ kho tại: Thôn C, xã K, huyện Đ, Hà Nội nhận đơn hàng của Công ty Cổ phần H8, địa chỉ: số D N, phường N, quận T, Hà Nội, 02 kiện hàng gồm: 05 chiếc điện thoại Iphone 11 và 02 chiếc máy tính bảng Apple Ipad. Sau khi nhận hàng về kho, đến khoảng 00h56′ ngày 16/03/2023, anh Trần Văn Q1 (sinh năm: 2001, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội) là nhân viên của Công ty C1 bốc 02 kiện hàng trên lên xe tải BKS: 51C – 697.52 đợi chuyển đi Nam Định. Khoảng 11h45' ngày 17/03/2023 nhân viên bưu cục ở Nam Định gọi điện thông báo bị mất 02 kiện hàng trên. Công ty C1 thì phát hiện rạng sáng ngày 16/3/2023 có 02 đối tượng nghi vấn nhảy qua tường rào vào khu vực đỗ xe của Công ty nơi chuẩn bị giao hàng đi Nam Định. Ngày 27/3/2023 chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1996 - Chuyên viên pháp chế của Công ty C1 là đại diện theo uỷ quyền đã viết đơn trình báo gửi đến Công an huyện Đ.

Quá trình điều tra Vương Xuân H, Phan Văn NNguyễn An B đã khai nhận hành vi như sau:

- Vương Xuân HPhan Văn N trước đây từng làm việc tại Công ty C1, biết được sơ hở trong quản lý các tài sản của công ty, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 22h ngày 15/5/2023, H đến nhà N chơi, rồi rủ N đêm đến Công ty C1 trộm cắp tài sản, bán lấy tiền trả nợ, N đồng ý. Đến khoảng 04h00 ngày 16/3/2023, N điều khiển xe máy Wave màu đỏ, BKS: 29S1-30463 chở H cầm theo thang sắt hình chữ A đến khu vực tường rào Công ty C1, N bắc thang trèo tường vào bên trong, H đứng ngoài cảnh giới. Khi vào trong sân, N đến chiếc xe ôtô tải BKS: 51C – 697.52 mở cửa thùng (thùng không khoá) trèo vào trong xe tìm tài sản. N phát hiện và lấy 02 kiện hàng có dán lô gô của hãng A1 rồi trèo ra ngoài đưa cho H. Sau đó NH đi về nhà N, mở hai kiện hàng. Kiện hàng thứ nhất có 05 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu trắng (gồm 02 chiếc dung lượng 64Gb và 03 chiếc dung lượng 128Gb), kiện hàng thứ hai có 02 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Gen 9th 10.2-inch Wi-fi 64GB – Space Grey. Đến khoảng 09h00 ngày 17/3/2023, H cầm 02 chiếc điện thoại di động mang về nhà, số tài sản còn lại cất giữ tại nhà N. Ngày 26/3/2023, H lấy 01 chiếc Ipad ở nhà N mang đến quán điện thoại của Nguyễn An B ở thôn S, xã V, huyện Đ, Hà Nội bán cho B với giá 4.000.000 đồng. Sau đó B được Phan Hữu K1 là em họ B, đang là nhân viên công ty C1 kể công ty bị mất 5 điện thoại Iphone 11 và 02 Ipad. Nghi ngờ chiếc Ipad mua của H là tài sản trộm cắp nên B trả lại Hùng I và bảo H trả lại số tiền 4 triệu đồng, H thừa nhận với B việc cùng N trộm cắp tài sản tối 16/3/2023 nhưng chưa có tiền trả lại B. HN nhờ Bình bán các tài sản trộm cắp, B đồng ý. Sau đó BH mang các tài sản đi bán, cụ thể các ngày sau:

Khoảng 12h ngày 04/4/2023, B điều khiển xe máy Honda Dream (không rõ BKS) chở H đến khu vực huyện Đ bán cho cửa hàng mua bán điện thoại (không rõ tên, địa chỉ) 01 chiếc điện thoại Iphone 11 với giá 5.800.000 đồng. H trả B tiền mua sim, tiền đổ xăng xe và tiền phà 800.000 đồng, H cho B vay 500.000 đồng (chiếc điện thoại hiện chưa thu giữ được). Đến khoảng 20h cùng ngày, H đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn H4, sinh 1974; trú tại thôn H, xã K, C, huyện Đ bán 01 chiếc điện thoại Iphone giá 6.000.000 đồng (chiếc điện thoại đã bị thu giữ). Khoảng 14h00 ngày 05/4/2023, H4B mang điện thoại di động và I vào quán nước anh Nguyễn Văn H5, sinh 1989; trú tại Thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, bán cho anh H5 01 điện thoại Iphone 11 với giá 7.000.000 đồng, anh H5 mua cho vợ là chị Nguyễn Thị H7, sinh 1993 sử dụng (chiếc điện thoại đã bị thu giữ). BH4 tiếp tục đến khu vực huyện M, Hà Nội bán cho anh Nguyễn Văn Q, sinh 1983; trú tại xã T, huyện S, Hà Nội 01 chiếc Ipad với giá 4.000.000 đồng. Sau đó, anh Q bán chiếc Ipad cho 1 nam giới (không rõ địa chỉ, tên tuổi) với giá 4.500.000 đồng (chiếc Ipad hiện chưa thu giữ được). Sau khi bán được tài sản, H4 trả nợ B 2.000.000 đồng và thanh toán tiền xe hết 1.000.000 đồng (tổng 3.000.000 đồng). Số tiền còn lại (8.000.000 đồng) H4 bảo B chuyển vào số tài khoản 102003304127 của H4 tại ngân hàng V1, B đã mượn điện thoại của vợ là chị Nguyễn Thị T để chuyển khoản cho H4, H4 đưa lại tiền mặt cho B.

Còn lại các ngày ngày 07/4/2023, B bảo H4 trả nợ 4.000.000 đồng, do không có tiền nên H4 đưa cho B chiếc điện thoại Iphone 11 để gán nợ. Chiều cùng ngày, H4 mang 01 chiếc điện thoại Iphone 11 đến cửa hàng của anh Trương Khắc G, sinh 1978 ở thôn H, xã K, huyện Đ, Hà Nội bán giá 5.000.000 đồng (Chiếc điện thoại đã bị thu giữ); ngày 08/4/2023, B mang chiếc điện thoại Iphone 11 đến cửa hàng điện thoại “HT Mobile” của anh Ngô Văn T1, sinh 1993; trú tại thôn Y, xã T, huyện M, Hà Nội bán với giá 7.500.000 đồng. Sau đó, anh T1 bán chiếc điện thoại cho anh Kim Văn T2 trú tại, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 8.100.000 đồng, anh T2 bán cho anh anh Vương Quốc V, sinh năm 1985; trú tại thôn M, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội với giá 8.700.000 đồng (chiếc điện thoại đã bị thu giữ); Khoảng 13h00 ngày 20/4/2023, H4 mang chiếc Ipad đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Văn H6, sinh 1987; tại thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội bán với giá 4.000.000 đồng (Chiếc Ipad hiện đã bị đã thu giữ). Số tiền bán điện thoại và Ipad H4 sử dụng tiêu xài cá nhân và trả nợ, không chia cho N.

* Tại kết luận định giá sôa 74 ngày 13/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:- 03 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 128GB White trị giá 32.543.880 đồng;- 02 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 64GB White trị giá 19.080.000 đồng; - 02 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad G 9th 10.2- inch Wi-fi 64GB – Space Grey trị giá 12.181.818 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 63.805.698 đồng (sáu mươi ba triệu tám trăm linh năm nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng).

* Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 chiếc xe mô tô BKS: 29S1 – 304.63 và 01 chiếc điện thoại nhãx hiệu Realme c17 vỏ màu xanh, số Imeil: 867366041534873, số Imei2: 867366041534865 gắn sim số 0972345283; 01 chiếc thang hình chữ A bằng kim loại sáng màu, dài 02m ; 01 xe máy nhãn hiệu Wave, BKS: 29S1-30463. thu giữ của Phan Văn N.
  • - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mimix 4, vỏ màu đen, số Imei1: 866263054670176, số Imei2: 866263054670184 gắn sim số: 0929958886 và 0522346868; Số tiền 7.500.000₫ (bẩy triệu năm trăm nghìn đồng) thu của Nguyễn An B.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 vỏ màu xanh, số Imeil: 866109040853592, số Ime2: 866109040853584, gắn sim số 0326479814 thu của Vương Xuân H.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu trắng, số Imei: 356656428596422 thu giữ của anh Vương Quốc V.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu trắng, số Imei: 351734249289603 của chị Nguyễn Thị H7.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu trắng, số Imei : 358292249033672 của Nguyễn Văn H4.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng, số Imei : 35173429135335 của Nguyễn Trương G1.
  • - 01 Ipad Gen, màu xám thu của Nguyễn Văn H6.
  • - Số tiền 8.100.000đ thu của Ngô Văn T1 (là tiền bán chiếc điện thoại Iphon 11 cho anh Kim T2).
  • - Thu của anh Nguyễn Văn M: 03 USB có chứa hình ảnh, video liên quan đến vụ việc.

* Xử lý vật chứng:

Ngày 28/05/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ quyết định xử lý vật chứng trao trả chị Nguyễn Thị H3 04 điện thoại Iphone 11, màu trắng và 01 Ipad.

Ngày 14/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ quyết định xử lý vật chứng trả chị Phan Thị Thanh L2 chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29S1-304.63.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme c17 vỏ màu xanh, gắn sim số 0972345283; 01 chiếc thang hình chữ A bằng kim loại, dài 02m ; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mimix 4, vỏ màu đen, gắn sim số: 0929958886 và 0522346868; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 vỏ màu xanh, gắn sim số 0326479814; số tiền 15.600.000 đồng chuyển Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với 03 USB có chứa hình ảnh trộm cắp tài sản ngày 16/3/2023 đã được chuyển hoá làm tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

* Về các yêu cầu bồi thường dân sự:

- Chị Nguyễn Thị H3 đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại cho Công ty C1 90.787.540 đồng do gia đình bị cáo H4 bồi thường. Chị H3 đã viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo NH4.

- Đối với các anh Nguyễn Văn H5 yêu cầu H4 bồi thường số tiền 7.000.000đ;

- Anh Nguyễn Văn H4 đề nghị bị cáo H4 bồi thường số tiền 6.000.000đ;

- Anh Trương Khắc G đề nghị bị cáo H4 bồi thường số tiền 5.000.000đ;

- Anh Nguyễn Văn H6 đề nghị bị cáo H4 bồi thường số tiền 4.000.000

- Anh Ngô Văn T1 đề nghị B bồi thường số tiền 7.500.000đ.

Đối với việc Vương Xuân H khai tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi tài xỉu, ngoài lời khai H không có tài liệu nào thể hiện việc H có hành vi đánh bạc, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bi – a của Phan Văn N, ngoài lời khai N, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu về việc N có hành vi đánh bạc, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với các anh Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn Q, Trương Khắc G, Ngô Văn T1, Kim Văn T2, Vương Quốc V, Nguyễn Văn H6 có hành vi mua tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng các anh không biết các tài sản đó là do Trộm cắp mà có, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chị Phan Thị Thanh L2 cho N mượn chiếc xe máy, tuy nhiên chị L2 không biết việc N sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị L2.

Tại bản cáo trạng số 149/CT -VKSÐA ngày 31/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Vương Xuân H và đồng phạm về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt:

+ Vương Xuân H từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

+ Phan Văn N từ 20 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng

- Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt:

+ Nguyễn An B từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về dân sự: Hoàn trả anh Nguyễn Văn H5 số tiền 7.000.000đ, anh Nguyễn Văn H4 số tiền 6.000.000đ; anh Trương Khắc G số tiền 5.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H6 số tiền 4.000.000; Anh Ngô Văn T1 số tiền 7.500.000đ. Tổng cộng là 29.500.000đ. Số tiền này được trừ vào số tiền các bị cáo N, B đã nộp là 17.800.000đ, số tiền thu của bị cáo B là 7.500.000đ và số tiền thu của anh Ngô Văn T1 là 8.100.000đ (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/7/2023 của Công an huyện Đ, Biên lai thu tiền số AA/2020/0035429 ngày 16/8/2023 và Biên lai thu tiền số AA/2020/0035412 ngày 08/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh). Còn lại 3.900.000đ hoàn trả cho bị cáo B.

- Về vật chứng:

+ Hoàn trả cho bị cáo Phan Văn N 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme c17 vỏ màu xanh gắn sim số 0972345283, bị cáo Nguyễn An B 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mimix 4 vỏ màu đen gắn sim số: 0929958886 và 0522346868 và bị cáo Vương Xuân H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 vỏ màu xanh gắn sim số 0326479814.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc thang hình chữ A bằng kim loại, dài 02m.

* Các Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Các Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với sự vắng mặt người có quyền, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa hôm nay. Xét quá trình điều tra người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của người có quyền, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Do đo, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận: Rạng sáng ngày 16/3/2023 Vương Xuân H, Phan Văn N đã có hành vi lén lút trèo tường rào đột nhập vào nhà kho Công ty cổ phần C1 có địa chỉ tại thôn C, xã K, huyện Đ trộm cắp 05 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 và 02 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Gen 9th 10.2-inch Wi-fi 64GB – Space Grey; tổng trị giá 63.805.698₫ (sáu mươi ba triệu tám trăm linh năm nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng). Sau đó Vương Xuân H, Phan Văn N đến cửa hàng mua bán điện thoại của Nguyễn An B tại thôn S, xã V, huyện Đ, Hà Nội nói cho B biết việc trộm cắp tài sản của Công ty cổ phần C1 và đem một số tài sản trộm cắp được đến gửi tại cửa hàng của B. Ngày 4/4/2023 HB cùng bán 01 chiếc điện thoại. Ngày 05/4/2023 HB cùng đi bán 01 Ipad và 01 điện thoại. Từ ngày 07/4/2023 đến ngày 20/4/2023, H một mình đi bán 02 điện thoại, 01 Ipad được. Tổng số tiền Nguyễn An B được hưởng lợi từ việc tiêu thụ tài sản là: 11.500.000 đồng. Tổng số tiền Vương Xuân H được hưởng lợi từ tài sản trộm cắp là 27.500.000 đồng. Phan Văn N không được H chia cho đồng nào từ việc H và Bình bán các tài sản NH cùng trộm cắp, không hưởng lợi.

Hành vi của Vương Xuân HPhan Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, Nguyễn An B đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.”

Điều 323. Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Theo lời khai và các tài liệu chứng cứ thể hiện ngày 4/4/2023 B đã cùng H bán 01 chiếc điện thoại. Ngày 05/4/2023 B đã cùng H cùng đi bán 01 Ipad và 01 điện thoại. Do đó, bị cáo B đã phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

[4.2].Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; Bị cáo H, N, B đều tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; Bị cáo H, N có đơn xin giảm nhẹ của người bị hại; Bị cáo N gia đình có công với cách mạng, gia đình bị cáo B là gia đình liệt sỹ, có ông nội tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân huy chương hạng 3 nên các bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện Đ. Các Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội.

Vụ án có đồng phạm, nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò mà chỉ có đồng phạm giản đơn nên không có tổ chức. Về vai trò của các bị cáo thể hiện: Bị cáo H là rủ rê bị cáo N đi trộm cắp và là người trực tiếp đi tiêu thụ tài sản phạm tội để tiêu sài các nhân nên bị cáo có vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo N bị rủ rê và không tham đi đi tiêu thụ nên có vai trò thấp hơn. Bị cáo B tham gia cùng H đi tiêu thụ tài sản hai lần.

Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của các bị cáo như sau: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo; ăn năn hối cái về hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo cũng đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho người bị thiệt hại; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội mang tính chất cơ hội; tài sản phạm tội đã được bồi thường và thu hồi; Bị cáo B tuy phạm tội hai lần chở lên nhưng các lần phạm tội của bị cáo đều ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo cũng đã tự nguyện khắc phụ hậu quả. Do đó, HĐXX nhận thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[6] Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về phần bồi thường dân sự:

7.1. Người bị hại đã nhận lại tài sản và đã được bồi hường đầy đủ nên người bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

7.2. Đối với yêu cầu anh Nguyễn Văn H5 yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H4 yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000đ; Anh Trương Khắc G yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H6 đề nghị bồi thường số tiền 4.000.000; Anh Ngô Văn T1 đề nghị B bồi thường số tiền 7.500.000đ. Xét yêu cầu của anh H5, anh H4, anh G, anh H6, anh T3 là hợp pháp nên được chấp nhận.

Do đó, hoàn trả anh Nguyễn Văn H5 số tiền 7.000.000đ, anh Nguyễn Văn H4 số tiền 6.000.000đ; anh Trương Khắc G số tiền 5.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H6 số tiền 4.000.000; Anh Ngô Văn T1 số tiền 7.500.000đ. Tổng cộng là 29.500.000đ. Số tiền này được trừ vào số tiền các bị cáo N, B đã nộp là 17.800.000đ, số tiền thu của bị cáo B là 7.500.000đ và số tiền thu của anh Ngô Văn T1 là 8.100.000đ (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/7/2023 của Công an huyện Đ, Biên lai thu tiền số AA/2020/0035429 ngày 16/8/2023 và Biên lai thu tiền số AA/2020/0035412 ngày 08/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh). Còn lại 3.900.000đ hoàn trả cho bị cáo B.

[8] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme c17 vỏ màu xanh gắn sim số 0972345283 của bị cáo N, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mimix 4 vỏ màu đen gắn sim số: 0929958886 và 0522346868 thu của bị cáo B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 vỏ màu xanh gắn sim số 0326479814 thu của bị cáo H4 không liên quan đến việc phạm tội nên hoàn trả cho các bị cáo..

- Đối với 01 chiếc thang hình chữ A bằng kim loại, dài 02m là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về án phí: Các Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vương Xuân H, Phan Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Nguyễn An B phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 328 Bộ luật hình sự đói với bị cáo HN;
  • - Điểm Khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo B;
  • - Điều 46, 47 và Điều 106 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333;Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử phạt:

1.1. Vương Xuân H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án

1.2. Phan Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án

1.3. Nguyễn An B 12 (Mười) tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 24 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Vương Xuân H, Phan Văn N nếu các bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Vương Xuân H, Nguyễn An B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Giao bị cáo Phan Văn N cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã được hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về phần dân sự:

3.1. Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết

3.2. Hoàn trả anh Nguyễn Văn H5 số tiền 7.000.000đ, anh Nguyễn Văn H4 số tiền 6.000.000đ; anh Trương Khắc G số tiền 5.000.000đ; Anh Nguyễn Văn H6 số tiền 4.000.000; Anh Ngô Văn T1 số tiền 7.500.000đ. Tổng cộng là 29.500.000đ. Số tiền này được trừ vào số tiền các bị cáo N, B đã nộp là 17.800.000đ, số tiền thu của bị cáo B là 7.500.000đ và số tiền thu của anh Ngô Văn T1 là 8.100.000đ (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/7/2023 của Công an huyện Đ, Biên lai thu tiền số AA/2020/0035429 ngày 16/8/2023 và Biên lai thu tiền số AA/2020/0035412 ngày 08/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh). Còn lại 3.900.000đ hoàn trả cho bị cáo B.

3.3. Về vật chứng:

- Hoàn trả cho bị cáo Phan Văn N 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme c17 vỏ màu xanh gắn sim số 0972345283, bị cáo Nguyễn An B 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mimix 4 vỏ màu đen gắn sim số: 0929958886 và 0522346868 và bị cáo Vương Xuân H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12 vỏ màu xanh gắn sim số 0326479814.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc thang hình chữ A bằng kim loại, dài 02m.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh)

5. Về án phí: Các Vương Xuân H, Phan Văn NNguyễn An B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Án xử công khai sơ thẩm; Các Bị cáo, người bị hại, anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh.
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2023/HS - ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 158/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Rạng sáng ngày 16/3/2023 Vương Xuân H, Phan Văn N đã có hành vi lén lút trèo tường rào đột nhập vào nhà kho Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Vietstar trộm cắp 05 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 và 02 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad Gen 9th 10.2-inch Wi-fi 64GB – Space Grey; tổng trị giá 63.805.698đ (sáu mươi ba triệu tám trăm linh năm nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng). Sau đó H, N đến cửa hàng mua bán điện thoại của Nguyễn An B tại thôn thôn S, xã V, huyện Đ, Hà Nội nói cho B biết việc trộm cắp tài sản của Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Vietstar và đem một số tài sản trộm cắp được đến gửi tại cửa hàng của B. Ngày 4/4/2023 H và B cùng bán 01 chiếc điện thoại. Ngày 05/4/2023 H và B cùng đi bán 01 Ipad và 01 điện thoại. Từ ngày 07/4/2023 đến ngày 20/4/2023, H một mình đi bán 02 điện thoại, 01 Ipad được. Tổng số tiền Nguyễn An B được hưởng lợi từ việc tiêu thụ tài sản là: 11.500.000 đồng. Tổng số tiền Vương Xuân H được hưởng lợi từ tài sản trộm cắp là 27.500.000 đồng. Phan Văn N không được H chia cho đồng nào từ việc H và B bán các tài sản N và H cùng trộm cắp, không hưởng lợi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger