|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2025/DS-PT
Ngày 10-4-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 570/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 54/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Anh T - Văn phòng Luật sư Lê Anh T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
3. Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1950. Địa chỉ: Số C, đường P, Khóm C, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn T2: Ông Phan Hoàng B, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Đường H, khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số G, đường L, khóm E, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số B, đường L, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
3. Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số E, đường L, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1986 (vắng mặt).
5. Bà Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm 1975 (vắng mặt).
6. Ông Nguyễn Thanh T7, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số D, đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
7. Ông Đỗ Văn T8, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số G, đường K Bạc Liêu, khóm F, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
8. Ông Đỗ Văn T9, sinh năm 1965 (vắng mặt).
9. Bà Đỗ Thị Thùy N1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
10. Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
11. Ông Hồng Quốc L, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Số C, đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (chồng nguyên đơn; vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đỗ Văn T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Đỗ Thị H trình bày:
Cha của bà Đỗ Thị H tên Đỗ Văn C, chết năm 2019. Mẹ bà H tên Nguyễn Thị N2, chết năm 2000. 02 Cụ chết không có để lại Di chúc. Cụ C và cụ N2 có tất cả 10 người con, đã chết 02 người con tên Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, còn 08 người gồm: Đỗ Thị H, Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1, Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9.
Vào năm 2001, cụ C có làm “Tờ Giấy cho tặng đất”, cho bà H phần đất diện tích 215m², ngang 5,1 mét; sau hậu 5,46m; chiều dài 41,7m. x dài 48 mét. Năm 2003, bà H xây dựng nhà ở cho đến nay.
Đến ngày 11/7/2016, Cụ C làm Đơn xin xác nhận nội dung cho đất các con, trong đó có nguyên đơn phần đất nói trên.
Ngày 27/5/2021 anh em trong gia đình có lập Biên bản họp mặt anh em, nội dung: Các anh em đồng ý với Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của cụ C. Riêng ông T2 có mặt nhưng không ký tên vào Biên bản.
Hiện bà Đỗ Thị Đ, bà Đỗ Thị Thùy N1, ông Đỗ Văn T8, ông Đỗ Văn T9 đồng ý ký tên để bà H đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn ông Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1 không đồng ý nên bà H khởi kiện.
Nay nguyên đơn bà Đỗ Thị H yêu cầu: Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Tờ giấy tặng cho đất) giữa cụ Đỗ Văn C và bà Đỗ Thị H, đối với phần đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, qua đo đạc thực tế có diện tích 218,9m², theo Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P. Ngoài ra nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Nguyên đơn thống nhất bản Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P; thống nhất với chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH T11.
Hiện trạng đất, công trình trên đất từ khi xem xét, đo đạc thẩm định tại chỗ đến nay không thay đổi.
Bị đơn ông Đỗ Văn S trình bày:
Cha của nguyên đơn, bị đơn tên Đỗ Văn C, chết năm 2019. Mẹ tên Nguyễn Thị N2, chết năm 2000. Khi cha, mẹ chết không có để lại Di chúc. Cha, mẹ có tất cả 10 người con, đã chết 02 người con tên Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, còn 08 người gồm: Đỗ Thị H, Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1, Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9. Các người con trong gia đình đều được được cụ C cho đất. Bà H được cho phần đất chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m. Phần đất này bà H đang quản lý, sử dụng.
Đến ngày 11/7/2016, Cụ C làm Đơn xin xác nhận nội dung cho đất các con, trong đó có bà H. Ông S xác nhận chữ ký trong đơn đúng là của ông C. Ông S thống nhất nội dung Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 nói trên.
Ngày 27/5/2021 anh em trong gia đình có lập Biên bản họp mặt anh em, nội dung: Các anh em đồng ý với Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của cụ C. Ông S có ký vào Biên bản họp. Tuy nhiên, ông S chỉ đồng ý công nhận Hợp đồng của cụ C tặng cho đất bà H, đối với phần đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C có chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m.
Bị đơn thống nhất bản Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P; thống nhất với chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH T11. Hiện trạng đất, công trình trên đất từ khi xem xét, đo đạc thẩm định tại chỗ đến nay không thay đổi.
Bị đơn ông Đỗ Văn T1 trình bày:
Cha của nguyên đơn, bị đơn tên Đỗ Văn C, chết năm 2019. Mẹ tên Nguyễn Thị N2, chết năm 2000. Khi cha, mẹ chết không có để lại Di chúc. Cha, mẹ có tất cả 10 người con, đã chết 02 người con tên Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, còn 08 người gồm: Đỗ Thị H, Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1, Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9. Các người con trong gia đình đều được được cụ C cho đất. Bà H được cho phần đất chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m. Phần đất này bà H đang quản lý, sử dụng.
Đến ngày 11/7/2016, Cụ C làm Đơn xin xác nhận nội dung cho đất các con, trong đó có bà H. Ông T1 thống nhất với nội dung Đơn. Tuy nhiên, chữ ký trong đơn có phải là của cụ C hay không thì ông T1 không xác định được, nhưng cũng không đặt ra yêu cầu gì. Ngày 27/5/2021 anh em có lập Biên bản họp mặt anh em, nội dung: Các anh em đồng ý với Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của cụ C. Ông T1 có ký vào Biên bản họp.
Nay ông T1 chỉ đồng ý công nhận Hợp đồng của cụ C tặng cho đất bà H, đối với phần đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C có chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m, mà không đồng ý công nhận diện tích theo yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn thống nhất bản Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P; thống nhất với chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH T11. Hiện trạng đất, công trình trên đất từ khi xem xét, đo đạc thẩm định tại chỗ đến nay không thay đổi.
Bị đơn ông Đỗ Văn T2 trình bày:
Cha của nguyên đơn, bị đơn tên Đỗ Văn C, chết năm 2019. Mẹ tên Nguyễn Thị N2, chết năm 2000. Khi cha, mẹ chết không có để lại Di chúc. Cha, mẹ có tất cả 10 người con, đã chết 02 người con tên Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, còn 08 người gồm: Đỗ Thị H, Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1, Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9. Các người con trong gia đình đều được được cụ C cho đất. Bà H được cho phần đất chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m. Phần đất này bà H đang quản lý, sử dụng. Căn nhà trên đất là do bà Đỗ Thị H1 xây cất, bà H chỉ là người sửa chữa căn nhà. Hiện bà H là người thờ cúng bà H1.
Đến ngày 11/7/2016, cụ C làm Đơn xin xác nhận nội dung cho đất các con, trong đó có bà H. Ông T2 thống nhất với nội dung Đơn. Tuy nhiên, chữ ký Trong Đơn có phải là của cụ C hay không thì ông T2 không xác định được, nhưng cũng không đặt ra yêu cầu gì.
Nay ông T2 chỉ đồng ý công nhận Hợp đồng của cụ C tặng cho đất bà H, đối với phần đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C có chiều ngang 3.9 m, chiều dài 28m, mà không đồng ý công nhận diện tích theo yêu cầu của nguyên đơn đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 218,9m².
Bị đơn thống nhất bản Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P; thống nhất với chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH T11. Hiện trạng đất, công trình trên đất từ khi xem xét, đo đạc thẩm định tại chỗ đến nay không thay đổi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh T3 trình bày: Cụ C cho mẹ anh là bà Đỗ Thị H2 phần đất ít hơn bà Đỗ Thị H, anh T3 thấy không thỏa đáng. Tuy nhiên, anh T3 không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T6 trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồng Quốc L trình bày:
Ông Hồng Quốc L là chồng bà H. Hiện bà H đang quản lý, sử dụng nhà đất và là người hương Hỏa cho bà Đỗ Thị H1. Tài sản tranh chấp là của riêng bà H có trước khi kết hôn, do đó ông L để cho bà H toàn quyền quyết định, ông L không có ý kiến, yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, ông Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9 trình bày cùng nội dung:
Cha mẹ chúng tôi tên Đỗ Văn C, chết năm 2019, mẹ tên Nguyễn Thị N2, chết năm 2000. Khi cha, mẹ chết không có để lại Di chúc. Cha, mẹ có tất cả 10 người con, đã chết 02 người con tên Đỗ Thị H1, Đỗ Thị H2, còn 08 người gồm: Đỗ Thị H, Đỗ Văn S, Đỗ Văn T2, Đỗ Văn T1, Đỗ Thị Đ, Đỗ Thị Thùy N1, Đỗ Văn T8, Đỗ Văn T9. Tất cả các anh chị em đều được cha, mẹ cho đất. Ai cũng có phần. Con trai thì được cho đất ruộng, cai gái thì được cho đất nền nhà.
Trong Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 do Cụ C ký, có xác nhận của T10 khóm 2 và UBND phường F, thành phố C. Tất cả thống nhất với nội dung Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016. Sau khi cha chúng tôi mất, vào ngày 27/5/2021, các anh em có cuộc họp nội dung: Đồng ý Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của của cụ C và ký tên vào Biên bản. Ông T2 có mặt nhưng không ký tên vào Biên bản hợp mặt anh em. Đỗ Thị H đã xây dựng nhà ở tại vị trí đất được cho từ năm 2003 đến nay. Ngoài phần đất này ra thì bà H không còn được cha, mẹ tặng cho phần đất nào khác.
Tất cả đồng ý theo di nguyện của cha về việc cho đất Đỗ Thị H. Đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Tờ giấy tặng cho đất) giữa cụ Đỗ Văn C và bà Đỗ Thị H, đối với phần đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, qua đo đạc thực tế có diện tích 218,9m², theo Trích đo hiện trạng, ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh N, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thanh T7 vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện thành phố Cà Mau đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H về việc Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Tờ giấy tặng cho đất ngày 06/01/2001) giữa cụ Đỗ Văn C và bà Đỗ Thị H, đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 218,9m², đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, theo Trích đo hiện trạng ngày 27/8/2024của Công ty TNHH P. Đất có ký hiệu M1M2M3M4M5M6M7M8M9M10M13M14.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 10 tháng 10 năm 2024 bị đơn là ông Đỗ Văn T2 kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo hướng phân chia di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn C và cụ Nguyễn Thị N2 chết để lại, phần của ông được hưởng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phan Hoàng B là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đỗ Văn T2 thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Phần tranh luận tại phiên tòa:
Ông Phan Hoàng B tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm với lý do án sơ thẩm không xem xét đầy đủ chứng cứ, bởi lẽ căn nhà là của bà H1 cất chứ không phải do bà H cất, thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định qua lời trình bày của ông S, ông T2 và ông T1; phần cuối biên bản này bà H, bà N1, bà Đ đồng ý nội dung biên bản thì chứng tỏ là nhà này bà H1 cất chứ không phải bà H. Các xác nhận của chính quyền địa phương và đơn yêu cầu xác nhận của cụ C được Ủy ban nhân dân xã xác nhận năm 2016 là chưa đảm bảo tính pháp lý vì đất này của cụ C và cụ N2, cụ N2 chết không để lại di chúc thì cụ C không được toàn quyền định đoạt. Ông T2 yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật nhưng phản tố trễ thời hạn là một phần lỗi của bị đơn nên không được Tòa sơ thẩm thụ lý, chấp nhận. Yêu cầu Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để xét xử lại đúng trình tự thủ tục và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đảm bảo cho tài sản này phân chia đúng quy định pháp luật.
Luật sư Lê Anh T tranh luận: Không đồng ý với kháng cáo của ông T2. Bà H được cụ C tặng cho đất 2 lần, cụ C làm giấy tay cho đất bà H và bà Đ chứ không phải chỉ cho đất bà H. Ông T2 nói nhà của bà H là đất của bà H1, bà H1 cất nhà nhưng giấy cho đất cụ C ghi rất rõ vị trí, khi cất nhà năm 2003 bà H có đóng thuế xây dựng, bà H chỉ có duy nhất phần đất đó, vì vậy không có căn cứ để cho rằng đất này của bà H1. Ông T2 yêu cầu chia thừa kế là không có căn cứ. Việc ông T2 nói văn bản của cụ C cho đất các con là có vi phạm đất thừa kế của bà N2 nhưng suốt quá trình cụ C cho đất, các anh em đã ở và sử dụng thì không ai đặt ra, tại phiên tòa sơ thẩm ông T2 cũng không đặt ra vấn đề này, nay ông T2 đặt ra yêu cầu hủy án trong đó có lý do có dính đất của cụ N2 là không hợp lý. Án sơ thẩm xử công nhận hợp đồng tặng cho đất giữa cụ C với bà H là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà H tranh luận: Việc bà đồng ý trong biên bản thẩm định là đồng ý với kích thước đo vẽ hiện trạng chứ không đồng ý với ý kiến của ông S, ông T1, ông T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn T2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông T2 xác định thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do ông T2 có yêu cầu xác định đây là di sản thừa kế và trước đây ở cấp sơ thẩm ông T2 có yêu cầu phản tố xin chia thừa kế theo pháp luật nhưng không được thụ lý giải quyết.
[2] Xét các căn cứ kháng cáo của bị đơn là ông Đỗ Văn T2, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông T2 kháng cáo cho rằng Giấy tặng cho đất ngày 06/01/2001 chưa đủ căn cứ kết luận là chữ ký của cụ Đỗ Văn C, không có Ủy ban nhân dân xã chứng thực. Mẹ của anh em ông cụ Nguyễn Thị N2 là vợ cụ C chết năm 2000 không để lại di chúc nên cụ C không có quyền định đoạt toàn bộ di sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ C và cụ N2 mà chỉ được tặng cho ½ bằng 109,45 m², phần còn lại là di sản của cụ N2 không để lại di chúc nên ông yêu cầu được hưởng phần của cụ N2 theo quy định pháp luật.
Xét thấy lý do ông T2 kháng cáo cho rằng cụ C không được quyền định đoạt vì có ½ tài sản là của cụ N2 là không có cơ sở bởi lẽ: Sau khi cụ Nguyễn Thị N2 chết thì tất cả các người con đều được cụ C phân chia đất trong đó có một số anh chị em đã được cấp giấy chứng nhận; các anh em ông T2 đều nhận phần đất được cụ C tặng cho và quản lý sử dụng mà không ai phản đối hay khiếu nại gì nên xác định tất cả anh em đã mặc nhiên thống nhất việc cụ C định đoạt phân chia toàn bộ phần đất này. Đối với yêu cầu phân chia thừa kế theo pháp luật ½ tài sản của cụ N2 cũng không thể xem xét do ông T2 không yêu cầu phản tố và chưa được cấp sơ thẩm xem xét giải quyết nên tại cấp phúc thẩm không thể giải quyết.
Xét tính hợp pháp của giấy tặng cho đất ngày 06/01/2001 thấy rằng: Vào ngày 06/01/2001, cụ Đỗ Văn C có làm “Tờ giấy tặng cho đất” cho bà Đỗ Thị H phần đất diện tích 215m², đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Đến ngày 11/7/2016, cụ C ký “Đơn xin xác nhận” gửi UBND phường F, thành phố C, nội dung xin xác nhận cho đất các con. Trong đó có cho bà Đỗ Thị H phần đất 215m², chiều ngang 5,1m; sau hậu 5,46m; dài 41,7m. Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cho đến khi xét xử phúc thẩm, ông S, bà Đ, bà N1, ông T9 là anh em ruột với ông T2 đều thống nhất với nội dung Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của cụ C; tất cả đều xác định chữ ký trong đơn đúng là của cụ C. Riêng ông T1 và ông T2 mặc dù thống nhất nội dung Đơn xin xác nhận nói trên và hai ông cho rằng không biết chữ ký trong Đơn có phải chính xác là của cụ C hay không, nhưng các ông cũng không yêu cầu giám định hay yêu cầu gì.
Mặc khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Đ, ông T8, ông T9, bà N1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H về việc công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên. Ông T2, ông S, ông T1 cũng đồng ý công nhận hợp đồng nhưng chỉ đồng ý với diện tích chiều ngang 3.9m x chiều dài 28m. Xét lời trình bày này của ông T2, ông S, ông T1 là không phù hợp. Bởi lẽ: Mặc dù giấy cho đất ngày 06/01/2001 cụ C ký không có xác nhận của chính quyền nhưng tại đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 do cụ C ký tất cả đều thừa nhận chữ ký đúng là của cụ C. Văn bản này có xác nhận của T10 khóm 2 và UBND phường F, thành phố C. Nội dung tại tờ giấy cho đất và Đơn xin xác nhận ngày 11/7/2016 của cụ C thể hiện rõ: Cho bà Đỗ Thị H phần đất chiều ngang 5,1m; sau hậu 5,46m; dài 41,7m tổng diện tích 215m². Mặc dù qua đo đạc thực tế có chênh lệch nhiều hơn diện tích 3,9m², nhưng không đáng kể, nên được chấp nhận. Hơn nữa tất cả các anh chị em đều thừa nhận khi cha, mẹ còn sống đều được cắt chia đất, ai cũng có phần, con trai thì được cho đất ruộng, con gái thì được cho đất nền nhà.
Đối với căn nhà trên đất, xét thấy:
Bà H, bà Đ, bà N1, ông T9 đều xác định căn nhà là của bà H. Riêng ông T2 xác định là nhà của bà H1 nhưng ông T2 không có chứng cứ chứng minh. Ngược lại bà H cho rằng, bà H là người đã xây dựng căn nhà nói trên và đã sinh sống ở đây từ năm 2003 cho đến nay. Bà H có cung cấp chứng cứ là Biên lai thuế, nội dung dự nộp thuế xây dựng năm 2003.
Quá trình giải quyết các đương sự đều xác định tất cả các người con của cụ C đều được cha, mẹ tặng cho tài sản, ngoài tài sản là phần đất nói trên thì bà H không được cha mẹ tặng cho tài sản nào khác. Hiện nay bà H đang quản lý, sử dụng phần nhà, đất tọa lạc tại khóm B, phường F, là tài sản đang tranh chấp. Do đó có cơ sở xác định phần đất mà cụ C tặng cho bà H đúng với vị trí phần đất bà H đang sử dụng (theo Trích đo hiện trạng ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P), mà không phải phần đất ở nơi nào khác. Do đó án sơ thẩm xác định phần nhà trên đất là do bà H xây dựng là có căn cứ.
[3] Đối với căn cứ mà người đại diện theo ủy quyền của ông T2 đặt ra để yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm, xét thấy:
Tại hồ sơ không có đơn yêu cầu phản tố của ông T2 mà chỉ có đơn phản tố của ông T1 nhưng ông T1 nộp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử nên đã hết thời hạn phản tố, ông T1 cũng không có kháng cáo. Đồng thời ông T2 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh đã có nộp đơn phản tố ở cấp sơ thẩm mà chưa được xem xét.
Do vậy kháng cáo của ông T2 yêu cầu hủy án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Đỗ Văn T2 có kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới ngoài những tài liệu chứng cứ đã được cấp sơ thẩm xem xét.
[4] Từ những nhận định trên, bản án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H là phù hợp, đúng quy định. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn T2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Tuy nhiên Hội đồng xét xử phúc thẩm có điều chỉnh cách tuyên án.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Đỗ Thị H không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.
Ông Đỗ Văn S phải nộp 300.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn T2 không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn T2.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 374/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H về việc Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Tờ giấy tặng cho đất ngày 06/01/2001) giữa cụ Đỗ Văn C và bà Đỗ Thị H, đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 218,9m², đất tọa lạc tại khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, theo Trích đo hiện trạng ngày 27/8/2024 của Công ty TNHH P. Đất có ký hiệu M1M2M3M4M5M6M7M8M9M10M13M14.
- Về chi phí tố tụng: Buộc các bị đơn ông Đỗ Văn S, Đỗ Văn T1, Đỗ Văn T2 mỗi bị đơn phải hoàn lại chi phí đo đạc, thẩm định giá cho nguyên đơn số tiền 4.449.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn T2 không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Nguyên đơn bà Đỗ Thị H không phải chịu. Ngày 08/7/2024, bà H có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008977, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được nhận lại.
Ông Đỗ Văn S phải nộp 300.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
10
Bản án số 158/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 158/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
