Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 158/2025/HSST

Ngày: 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh

Ông Huỳnh Phi Hổ

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Lê Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2025/HSST ngày 21/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/QĐXXST-HS ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Duy

Sinh ngày 04/12/1979; tại Bình Dương.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký thường trú: nhà số A, tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Phan Văn N, sinh năm 1947.

Họ tên mẹ: Tạ Thị Kim O, sinh năm 1954.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Họ và tên vợ: Sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990 (không đăng ký kết hôn). Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Năm 2004, Ủy ban nhân dân huyện L ra Quyết định đưa đi cai nghiện ma túy thời gian 24 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đ.
  • Ngày 24/11/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 05 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Năm 2007 Ủy ban nhân dân huyện L ra Quyết định đưa đi cai nghiện ma túy thời gian 24 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đ.
  • Ngày 29/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 299/2013/HSST ngày 29/5/2013).
  • Ngày 18/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 67/2015/HSST ngày 18/9/2015).
  • Ngày 10/02/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16/2017/HSST ngày 10/02/2017).

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực B.

(Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan D là người nghiện ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/10/2024, D đi đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đoạn đường gần khu vực Công viên L thì D thấy 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đang ngồi trên xe mô tô (không nhớ rõ biển số). D xuống xe và đi bộ lại gặp người đàn ông trên hỏi mua ma túy đá với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy D đi về nhà tại số A, tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu. Đến khoảng 18h00 cùng ngày, D lấy một phần ma túy ra để sử dụng, phần còn lại D hàn kín 02 đầu và bỏ trên nền nhà trong phòng ngủ của D. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/10/2024 Công an phường T kiểm tra hành chính nhà của D phát hiện trên nền nhà trong phòng ngủ của D có 01 một đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma túy. Công an phường T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đổi với D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời thu giữ và niêm phong tang vật có liên quan để xử lý theo quy định.

Qúa trình điều tra, D khai nhận mục đích mua, cất giữ số ma túy trên là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

  • Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói ni long hàn kín hai đầu bên trong có 01 đoạn ống nhựa hàn kín bên trong chứa tinh thể trắng được D khai là ma túy đá.
  • Biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với D: Xét nghiệm nước tiểu dương tính với Ma tuý đá.
  • Kết luận giám định số 2170/KL-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1863 gam, loại: Methamphetamin.

Tại bản cáo trạng số 164/CT-VKSBH ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Phan D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Phan D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

    Vào khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024, tại phòng ngủ của Phan D thuộc nhà số A, tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan Công an bắt quả tang D tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,1863gam, loại: methamphetamine, mục đích D tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

  3. [3] Hành vi của bị cáo Phan D đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh hiểm nghèo và làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
  7. [7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
  8. [8] Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm bán ma túy cho D, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, do đó tiếp tục xác minh xử lý sau.
  9. [9] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  10. [10] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Tuyên bố bị cáo Phan D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Phan Duy 0 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 2170/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

    (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKS TP. Biên Hòa (2)
  • - CABH-BC(10)
  • - THA (6)
  • - Lưu (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Lê Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 158/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Duy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger