|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày: 04 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mão
Ông Bùi Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Sơn H, sinh năm 1980 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Số E, ngõ A, đường Q, tổ dân phố A, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1, con bà Vũ Thị L; có vợ Nguyễn Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 24/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
- Nguyễn Hùng K, sinh năm 1986 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Xóm A, thôn K, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Đ, con bà Trần Thị L1 (Đã chết); có vợ Hoàng Thị T và 01 con sinh năm 2021; tiền án (1): Bản án số 778/2022/HS-PT ngày 08/9/2022, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tiền sự: Không; nhân thân (3): Ngày 16/02/2017, Công an quận N, thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số 631, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bản án số 186/2017/HS-ST ngày 31/8/2017, Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Quyết định số 1103/QĐ-UBND ngày 31/12/2021, UBND xã V, huyện H, thành phố Hà Nội quyết định giáo dục tại xã, phường C tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 24/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
- Phùng Đình P, sinh năm 1993 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Xóm D Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Đình P1, con bà Nguyễn Thị U; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân (4): Bản án số 52/2011/HS-ST ngày 16/6/2011, Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 211/2012/HS-ST ngày 29/6/2012, Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Quyết định số 101388 ngày 06/01/2020, Công an huyện H, thành phố Hà Nội quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 20/2020/HS-ST ngày 25/2/2020, Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 24/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
- Bị hại:
- + Công ty TNHH X; địa chỉ: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Người đại diện hợp pháp: Anh Vũ Minh T1; địa chỉ: số nhà E, ngõ G, đường L, phố A, phường Đ, thành phố N “vắng mặt”.
- + Ông Phạm Sỹ K1; địa chỉ: số nhà C, ngõ B, đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.
- + Anh Nguyễn Quốc P2; địa chỉ: xóm B, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt".
- + Anh Trịnh Văn T2; địa chỉ: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt".
- + Chị Nguyễn Thị Thanh M và anh Phạm Đức K2; địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đại T3, sinh năm 1997, trú tại TDP số A, T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K là bạn bè xã hội. Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong các ngày 25/4/2024, ngày 08/5/2024, 09/5/2024 và ngày 12/5/2024 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người dân, Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình; huyện N, tỉnh Ninh Bình và thành phố P, tỉnh Hà Nam. Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Sáng ngày 25/4/2024, Nguyễn Sơn H và Phùng Đình P đi qua khu tập kết vật tư của Công ty TNHH X ở thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện thấy có nhiều vật tư là sắt và thép xây dựng để trên bãi đất trống không có hàng rào, tường bao bảo vệ và không có người trông coi nên cả hai đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau đó H và P về nhà nghỉ trên địa bàn huyện N (không rõ địa chỉ cụ thể) rủ K đi trộm cắp tài sản. K đồng ý. Đến tối ngày 25/4/2024, Nguyễn Sơn H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace lắp biển kiểm soát 29D - 096.58 (loại xe 16 chỗ ngồi, đã tháo hết hàng ghế phía sau) chở Nguyễn Hùng K và Phùng Đình P đến khu tập kết vật tư của Công ty TNHH X để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, H ngồi trên xe ô tô để cảnh giới còn K và P xuống lấy 18 bộ Bulong M56 chân móng cột điện đã gia công theo thiết kế dùng để thi công dự án đường dây và TBA 110kv Rịa, tỉnh Ninh Bình bê lên xe ô tô. Sau đó H, K, P mang 18 bộ Bulong M56 đến một cửa hàng thu mua sắt vụn trên Quốc lộ A, thuộc địa phận tỉnh Hà Nam (không rõ địa chỉ cụ thể) bán được số tiền 4.500.000 đồng. H, K, P chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng. Số tiền còn lại 1.500.000 đồng H giữ để chi tiêu chung, cả ba đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08 ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N, thành phố N kết luận: 18 bộ B M56 chân móng cột điện đã gia công theo thiết kế (khoảng 33 kg/bộ) có giá 16.632.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 08/5/2024, Nguyễn Sơn H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace lắp biển kiểm soát 29D - 096.58 đi từ nhà nghỉ K5 ở thôn L, xã P, huyện Đ, thành phố Hà Nội chở Nguyễn Hùng K và Phùng Đình P đi đến khu vực thành phố N, tỉnh Ninh Bình tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua Văn phòng B1 ở đường Đ, phố B, phường N, thành phố N của ông Phạm Sỹ K1 cả ba quan sát thấy cửa nhà và cửa cổng bên ngoài khóa, không có người trông coi. K bảo H lùi xe lại đến trước cửa Văn phòng B1, sau đó H ngồi trên xe ô tô cảnh giới còn K cầm theo 01 chiếc kìm cộng lực cùng P xuống xe. K dùng kìm cộng lực để cắt khoá cổng rồi K và P đi vào bên trong sân. Cả hai quan sát thấy cửa bên hông nhà bằng gỗ đang khóa nên K và P quay lại xe ô tô cất kìm cộng lực và mỗi người cầm theo một chiếc xà cầy. Sau đó cả hai cùng cho xà cầy vào mép cửa để cậy cửa. Khi mở được cửa cả hai vào bên trong quan sát thấy trong phòng có 01 tivi nhãn hiệu Sony 65 inch, 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa, 01 loa trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250, 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm, 01 vang nhãn hiệu W AUDIO S8000+; K và P lấy 01 tivi nhãn hiệu Sony 65 inch, 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa, 01 loa trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250, 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm, 01 chiếc vang nhãn hiệu W AUDIO S8000+ bê ra xe ô tô. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đến khu vực thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình thuê nhà nghỉ (không rõ địa chỉ). Khoảng 9 giờ sáng ngày 09/5/2024, P xin K và H số tài sản đã trộm cắp trên để mang về dùng. K và H đồng ý, P thuê xe Taxi chở số tài sản trên về nhà P.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N kết luận: 01 chiếc Tivi nhãn hiệu Sony 65 inch có giá trị 7.000.000 đồng; 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa có giá trị 4.800.000 đồng; 01 chiếc loa trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250 có giá trị 1.600.000 đồng; 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm có giá trị 2.400.000 đồng; 01 chiếc vang nhãn hiệu W AUDIO S8000 có giá trị 1.200.000 đồng. Tổng trị giá là 17.000.000 đồng.
Vụ thứ ba:
Ngày 08/5/2024, Nguyễn Sơn H điều khiển xe ô tô Toyota Hiace biển kiểm soát 29D - 096.58 từ nhà nghỉ ở thị trấn M, huyện G (không rõ địa chỉ) chở Nguyễn Hùng K và Phùng Đình P đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị H2 ở xóm B, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình, cả ba quan sát sát thấy có một số thanh sắt hình chữ I, khung sắt hình chữ U để ở sân trước cửa nhà anh P2, chị H2 không có hàng rào, tường bao bảo vệ và không có người trông coi. H dừng xe ô tô lại bên đường, ngồi trên xe ô tô cảnh giới, còn P và K xuống xe bê 04 thanh sắt chữ I kích thước (2,1 x 0,15)m và 06 khung sắt U đúc kích thước (1,2 x 1,2)m lên xe ô tô. Sau đó H điều khiển xe đi về hướng Hà Nội để tìm nơi tiêu thụ tài sản vừa trộm cắp. Khi đi qua một cửa hàng thu mua phế liệu trên Quốc lộ A, thuộc địa phận tỉnh Hà Nam (không rõ địa chỉ) H, K, P đã mang bán 04 thanh sắt hình chữ I và 06 khung sắt hình chữ U được 2.100.000 đồng. Số tiền này H cầm, sau đó cả ba cùng tiêu xài hết số tiền trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N, tỉnh Ninh Bình kết luận: 04 thanh sắt I kích thước (2,1 x 0,15)m (khoảng 200 kg) và 06 khung sắt U đúc kích thước (1,2 x 1,2)m (khoảng 150 kg) có giá 3.500.000 đồng.
Vụ thứ tư:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, Nguyễn Sơn H điều khiển xe ô tô Toyota Hiace biển kiểm soát 29D - 096.58 chở Nguyễn Hùng K và Phùng Đình P đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến công trình xây dựng nhà ở của anh Nguyễn Trung K3 ở tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; H quan sát thấy trên vỉa hè trước công trình xây dựng có để các tấm be để đổ mái bê tông bằng sắt, mỗi tấm có kích thước (0,5 x 70 x 250)cm của anh Trịnh Văn T2 (là thợ xây dựng công trình cho anh Nguyễn Trung K3) không có người trông coi, H đã bảo với P, K3 lấy các tấm be để bán; P và K3 đồng ý. H ngồi trên xe ô tô cảnh giới còn P, K3 xuống xe lấy 20 tấm be mang để lên xe ô tô. Sau đó, H điều khiển xe ô tô đi theo Quốc lộ A hướng từ P đi Hà Nội tìm nơi tiêu thụ tài sản vừa trộm cắp. Khi đi đến một cửa hàng phế liệu (không xác định được địa chỉ cụ thể) P và K3 bê các tấm be xuống, H vào cân được 529 kg và bán cho chủ cửa hàng giá 8.500 đồng/1 kg được 4.500.000 đồng. H, K3, P chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng còn số tiền 1.500.000 đồng H giữ lại để chi tiêu chung. Cả ba đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, tỉnh Hà Nam kết luận: 20 tấm sắt kích thước (0,5 x 70 x 250) cm có số lượng, chủng loại, trọng lượng tương đương nhau, có tổng trọng lượng 529kg có giá 4.496.500 đồng.
Vụ thứ năm:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/5/2024, Nguyễn Sơn H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hiace lắp biển kiểm soát 29D - 096.58 chở Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P từ nhà nghỉ K5 đi đến khu vực thành phố N, tỉnh Ninh Bình tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi qua số nhà D, đường C, phố P, phường N, thành phố N, P quan sát thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 35B2 - 133.13 của chị Nguyễn Thị Thanh M đang dựng trên vỉa hè, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, không có người trông coi nên P bảo H dừng xe để P xuống lấy chiếc xe. H đồng ý và điều khiển xe ô tô đi qua số nhà D khoảng hơn 50 mét thì dừng xe lại. Lúc này P xuống xe còn H và K ngồi trên xe ô tô cảnh giới. P đi lại gần chiếc xe mô tô quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên đã mở khóa nổ máy xe rồi điều khiển xe đi. H thấy P đã lấy được xe mô tô nên điều khiển xe ô tô đi theo P. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi vào trong 1 ngõ nhỏ thì P điều khiển xe mô tô áp sát xe ô tô do H điều khiển và vẫy tay. H dừng xe lại rồi H và K xuống xe, bê bánh xe và phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 35B2 - 133.13 đặt lên cửa lên xuống của xe ô tô. Lúc này K trèo lên xe ô tô cầm tay lái xe mô tô kéo xe mô tô vào trong còn H và P bê bánh xe và thân xe mô tô phía sau lên để đẩy xe mô tô vào trong ô tô. Khi đã cho được chiếc xe mô tô vào bên trong xe ô tô thì K và P dùng dây dù để buộc chằng, hãm chiếc xe mô tô với thành xe ô tô. Sau đó, H điều khiển xe ô tô chở P và K đi về thành phố Hà Nội. Đến khoảng 11 giờ ngày 14/5/2024, H và Phúc kiểm T4 trong cốp xe mô tô trộm cắp được thấy có 01 giấy phép lái xe số AR374365 mang tên Nguyễn Thị Thanh M; 01 giấy phép lái xe số [...], 01 Căn cước công dân số [...], 01 thẻ ngân hàng T7 và 01 thẻ ngân hàng A mang tên Phạm Đức K2; 01 thẻ bảo hiểm y tế số GD4373721187178, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 056669 tên chủ xe Nguyễn Thị Thanh M và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Thanh M. Sau đó H, P mang chiếc xe mô tô cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 056669 tên Nguyễn Thị Thanh M đến cửa hàng cầm đồ Anh T5 ở số A đường X, phường P, quận N, thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Đại T3 làm chủ, cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Khắc T6 là nhân viên của cửa hàng lấy số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền trên H, P, K đã sử dụng cùng nhau ăn uống, hát karaoke, tiêu xài cá nhân; số tiền còn lại 2.030.000 đồng H giữ để tiêu xài chung.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu sơn vàng nâu, biển kiểm soát 35B2 - 133.13 có giá trị 16.000.000 đồng.
- Quá trình triều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố N tiến hành thu giữ:
- - Thu giữ của anh Nguyễn Khắc T6: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2 - 133.13; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 056669 tên chủ xe Nguyễn Thị Thanh M; 01 hợp đồng cầm đồ mang tên Phạm Đức K2, 01 giấy bán xe (không có nội dung) có chữ ký mang tên Phạm Đức K2.
- - Thu giữ của Nguyễn Sơn H: 01 ví da mầu đen trên ví có dòng chữ "Levi's"; số tiền 2.030.000 đồng; 01 giấy phép lái xe số AR374365, 01 căn cước công dân số [...] và 01 thẻ bảo hiểm y tế số GD4373721187178 đều mang tên Nguyễn Thị Thanh M; 01 giấy phép lái xe số [...], 01 căn cước công dân số [...], 01 thẻ ngân hàng T7 và 01 thẻ ngân hàng A đều mang tên Phạm Đức K2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 01 xe ô tô màu đen, số khung RZH115-3002109, số máy 3286796 biển kiểm soát 29D-407.65; 01 xà beng bằng kim loại kích thước (147x2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà beng bằng kim loại kích thước (110x2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (80x2,5) cm; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (78x2,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu, cán nhựa màu cam, kích thước (92x22,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại lưỡi màu đen, thân màu xanh, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46x12) cm; 01 kìm cắt cáp lưỡi kim loại tối màu thân kim loại màu cam, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46x14) cm; 01 rìu lưỡi bằng kim loại sáng màu, cán kim loại quấn băng dính màu xanh kích thước (77x15) cm.
- - Thu giữ tại nhà của Phùng Đình P: 01 tivi nhãn hiệu Sony 65 inch; 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa; 01 trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250; 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm; 01 vang nhãn hiệu W AUDIO S8000+ và thu giữ trên người của Phùng Đình P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax lắp sim số 0968518816.
- - Thu giữ của Nguyễn Hùng K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6+ lắp sim số 0932507286.
- - Thu giữ của anh Trịnh Văn T2: 01 tấm sắt kích thước (0,5 x 70 x 250) cm.
Tại Bản cáo trạng số 150/CT-VKSNDTPNB ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố để xét xử các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố, nhất trí với nội dung kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, tỉnh Ninh Bình; Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, tỉnh Hà Nam. Các bị cáo nhất trí với yêu cầu của bị hại về việc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, cụ thể: yêu cầu của Công ty TNHH X bồi thường số tiền 16.632.000 đồng, yêu cầu của chị Nguyễn Thị H2 bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, yêu cầu của anh Trịnh Văn T2 bồi thường số tiền 4.496.500 đồng, yêu cầu của anh Nguyễn Đại T3 bồi thường số tiền 7.970.000 đồng. Do hiện nay các bị cáo không có tài sản để thực hiện việc bồi thường, sau khi chấp hành án xong, các bị cáo sẽ lao động để thanh toán tiền bồi thường cho bị hại.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của Công ty TNHH X, ông Phạm Sỹ K1, chị Nguyễn Thị H2, anh Trịnh Văn T2, chị Nguyễn Thị Thanh M xác định: Ngày 25/4/2024, Công ty TNHH X bị mất 18 bộ Bulong M56 chân móng cột điện đã gia công theo thiết kế tại khu tập kết vật tư ở thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ngày 08/5/2024, ông Phạm Sỹ K1 bị mất 01 tivi nhãn hiệu Sony 65 inch, 02 loa, 02 chân loa, 01 loa trầm, 01 cục đẩy, 01 chiếc vang tại Văn phòng B1 ở đường Đ, phố B, phường N, thành phố N. Ngày 08/5/2024, chị Nguyễn Thị H2 bị mất 04 thanh sắt hình chữ I và 06 khung sắt hình chữ U để trước cửa nhà tại xóm B, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ngày 09/5/2024, anh Trịnh Văn T2 bị mất 20 tấm be đổ mái bê tông bằng sắt tại công trình đang xây dựng của anh Nguyên Trung K4 ở tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Ngày 12/5/2024 chị Nguyễn Thị Thanh M bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 35B2-133.13 để ở vỉa hè số nhà D, đường C, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; trong cốp xe có giấy tờ xe, thẻ ngân hàng, giấy phép lái xe của chị M và anh Phạm Đức K2. Quá trình điều tra, ông Phạm Sỹ K1, chị Nguyễn Thị Thanh M, anh Phạm Đức K2 đã được cơ quan điều tra trả lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu đề nghị gì khác. Công ty TNHH X yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 16.632.000 đồng, chị Nguyễn Thị H2 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, anh Trịnh Văn T2 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 4.496.500 đồng, anh Nguyễn Đại T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.970.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng K từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/5/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn H từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/5/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Đình P từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P mỗi bị cáo phải liên đới bồi thường cho: Công ty TNHH X số tiền 5.544.000 đồng, cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 1.167.000 đồng, cho anh Trịnh Văn T2 số tiền 1.499.000 đồng, cho anh Nguyễn Đại T3 số tiền 2.657.000 đồng.
Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô màu đen, số khung RZH115-3002109, số máy 3286796 biển kiểm soát 29D-407.65 thu giữ của Nguyễn Sơn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6+ lắp sim số 0932507286 thu giữ của Nguyễn Hùng K.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 xà beng bằng kim loại kích thước (147x2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà beng bằng kim loại kích thước (110x2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (80x2,5) cm; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (78x2,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu, cán nhựa màu cam, kích thước (92x22,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại lưỡi màu đen, thân màu xanh, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46x12) cm; 01 kìm cắt cáp lưỡi kim loại tối màu thân kim loại màu cam, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46x14) cm; 01 rìu lưỡi bằng kim loại sáng màu, cán kim loại quấn băng dính màu xanh, kích thước (77x15) cm.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P đều trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, do hoàn cảnh khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế dẫn đến hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm quay về với đời sống xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P đã khai nhận hành vi trộm cắp vào các ngày 25/4/2024, 08/5/2024, 09/5/2024, 12/5/2024 đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong ngày 25/4/2024, 08/5/2024, 09/5/2024 và ngày 12/5/2024, Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã 05 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình; huyện N, tỉnh Ninh Bình và thành phố P, tỉnh Hà Nam với tổng giá trị tài sản là 57.628.500 đồng. Cụ thể:
Tối ngày 25/04/2024, tại khu tập kết vật tư của Công ty TNHH X ở thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã lén lút chiếm đoạt của Công ty TNHH X 18 bộ B M56 chân móng cột điện đã gia công theo thiết kế có giá là 16.632.000 đồng.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/5/2024 tại Văn phòng B1 ở đường Đ, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã lén lút chiếm đoạt của ông Phạm Sỹ K1 01 chiếc Tivi nhãn hiệu Sony 65 inch, 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa, 01 chiếc loa trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250, 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm, 01 chiếc vang nhãn hiệu W AUDIO S8000 có tổng giá trị là 17.000.000 đồng.
Vào đêm ngày 08/5/2024 tại nhà anh Nguyễn Quốc P2 và chị Nguyễn Thị H2 ở xóm B, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã lén lút chiếm đoạt của chị H2 04 thanh sắt I kích thước (2,1 x 0,15) m và 06 khung sắt U đúc kích thước (1,2 x 1,2) m có tổng giá trị là 3.500.000 đồng.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, tại nhà anh Nguyễn Trung K3 ở tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã lén lút chiếm đoạt của anh Trịnh Văn T2 20 tấm sắt kích thước (0,5 x 70 x 250) cm có giá là 4.496.500 đồng.
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 12/5/2024, tại trước cửa số nhà D, đường C, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 35B2 - 133.13 của chị Nguyễn Thị Thanh M có giá là 16.000.000 đồng.
Các bị cáo Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P, Nguyễn Hùng K là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của các bị đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự;
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P, Nguyễn Hùng K về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công từ trước, trực tiếp tiếp nhận ý chí, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Sơn H sử dụng phương tiện của mình, chở các bị cáo khác đi trộm cắp tài sản, tích cực trong việc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Phùng Đình P, Nguyễn Hùng K giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Hùng K phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Sơn H có bố đẻ là thương binh loại A; được Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố H tặng bằng khen do đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Chủ tịch N1 tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang, do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Sơn H chưa từng vi phạm pháp luật. Bị cáo Nguyễn Hùng K đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, bị xét xử về hành vi vi phạm liên quan đến ma tuý. Bị cáo Phùng Đình P nhiều lần bị xét xử, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài hành vi trộm cắp trong vụ án, Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện C, thành phố Hà Nội và quận B, thành phố Hà Nội. Ngày 26/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận B, thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án và ngày 17/09/2024 khởi tố bị can đối với Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Ngày 03/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C, thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án và ngày 21/07/2024, khởi tố bị can đối với Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp, gây tâm lý hoang mang trong quá trình quản lý tài sản của nhân dân và cơ quan, tổ chức. Các bị cáo phạm tội nhiều lần, bị cáo H giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, bị cáo K và bị cáo P nhân thân đã nhiều lần vi phạm pháp luật; vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù cách ly cách bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Do các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ôn định, không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH X yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 16.632.000 đồng, chị Nguyễn Thị H2 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, anh Trịnh Văn T2 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 4.496.500 đồng, anh Nguyễn Đại T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.970.000 đồng. Tại phiên toà các bị cáo nhất trí bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của bị hại, do các bị cáo đang bị tạm giam nên chưa có điều kiện để bồi thường. Như vậy, sau khi chiếm đoạt được tài sản của bị hại, các bị cáo đã bán lấy tiền, chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng và cùng nhau tiêu xài số tiền còn lại, số tiền sử dụng ngang nhau, vì vậy các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại, chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 5.544.000 đồng, bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 1.167.000 đồng, bồi thường cho anh Trịnh Văn T2 số tiền 1.499.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đại T3 số tiền 2.657.000 đồng.
Đối với tài sản chiếm đoạt của ông Phạm Sỹ K1, chị Nguyễn Thị Thanh M, anh Phạm Đức K2 đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, ông Phạm Sỹ K1, chị Nguyễn Thị Thanh M, anh Phạm Đức K2 không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 xe ô tô màu đen, số khung RZH115-3002109, số máy 3286796 biển kiểm soát 29D-407.65 thu giữ của Nguyễn Sơn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6+ lắp sim số 0932507286 thu giữ của Nguyễn Hùng K, là tài sản của H, K được các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với: 01 xà beng bằng kim loại kích thước (147 x 2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà beng bằng kim loại kích thước (110 x 2,5) cm, một đầu nhọn, một đầu dẹt; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (80 x 2,5) cm; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (78 x 2,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu, cán nhựa màu cam, kích thước (92 x 22,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại lưỡi màu đen, thân màu xanh, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46 x 12) cm; 01 kìm cắt cáp lưỡi kim loại tối màu thân kim loại màu cam, tay cầm nhựa màu đen, kích thước (46 x 14) cm; 01 rìu lưỡi bằng kim loại sáng màu, cán kim loại quấn băng dính màu xanh, kích thước (77 x 15) cm thu giữ của Nguyễn Sơn H, là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 tivi nhãn hiệu Sony 65 inch; 02 loa nhãn hiệu G3 PROFESSIONAL AUDIO và 02 chân loa; 01 trầm nhãn hiệu W AUDIO AC 220V 50 Hz/60Hz 250; 01 cục đẩy nhãn hiệu BBS S600 Norm; 01 vang nhãn hiệu W AUDIO S8000+ thu giữ tại nhà của Phùng Đình P. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Phạm Sỹ K1. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại những tài sản trên cho ông K1.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng nâu, biển kiểm soát 35B2 - 133.13, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 056669, 01 giấy phép lái xe số AR374365, 01 căn cước công dân số [...] và 01 thẻ bảo hiểm y tế số GD4373721187178 đều mang tên Nguyễn Thị Thanh M; 01 giấy phép lái xe số [...], 01 căn cước công dân số [...], 01 thẻ ngân hàng T7 và 01 thẻ ngân hàng A đều mang tên Phạm Đức K2. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị M và anh K2. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại những tài sản trên cho chị M và anh K2.
Đối với 01 tấm sắt kích thước (0,5 x 70 x 250) cm là tài sản của anh Trịnh Văn T2 giao nộp. Cơ quan CSĐT Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam đã trả lại tài sản trên cho anh T2.
Đối với 01 ví da mầu đen trên ví có dòng chữ "Levi's" là tài sản của Nguyễn Sơn H không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố A, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội (là vợ của Nguyễn Sơn H).
Đối với số tiền 2.030.000 đồng thu giữ của Nguyễn Sơn H. Quá trình điều tra xác định là số tiền H cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 35B2- 133.13 tại cửa hàng cầm đồ Anh T5 còn lại. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã trả lại số tiền trên cho anh Nguyễn Đại T3.
Đối với 01 hợp đồng cầm đồ mang tên Phạm Đức K2 và 01 giấy bán xe (không có nội dung) có chữ ký mang tên Phạm Đức K2 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của Nguyễn Sơn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax thu giữ của Nguyễn Hùng K. Quá trình điều tra xác định là tài sản H, K trộm cắp tài sản ngày 03/04/2024 tại thôn N, xã T, huyện C, TP Hà Nội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã bàn giao 02 chiếc điện thoại trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện C, thành phố Hà Nội để xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Những tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với anh Nguyễn Khắc T6 là nhân viên cửa hàng cầm đồ Anh T5. Ngày 14/05/2024, anh T6 có nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 35B2 - 133.13 của Nguyễn Sơn H. Quá trình điều tra xác định anh T6 không biết chiếc xe trên do H, P, K phạm tội mà có, do đó không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Khắc T6.
Đối với Nguyễn Sơn H đã sử dụng chiếc xe ô tô màu đen, số khung RZH115-3002109, số máy 3286796, lắp biển kiểm soát 29D-407.65, để đi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và thành phố P, tỉnh Hà Nam. Sau khi mua lại chiếc ô tô từ năm cuối năm 2022 H không làm thủ tục sang tên xe, đã tự ý tháo hết các hàng ghế phía sau của xe ô tô để chở đồ trộm cắp được và sử dụng biển kiểm soát giả để lắp vào xe ô tô, điều khiển phương tiện khi không có giấy phép lái xe. Ngày 09/10/2024 Công an thành phố N quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H là có căn cứ.
Đối với các cửa hàng mua phế liệu đã mua tài sản do Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P trộm cắp ngày 25/4/2024, ngày 08/5/2024 và ngày 09/5/2024. Do H, K, P không nhớ được địa chỉ của các cửa hàng nên không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội và phải bồi thường thiệt hại cho bị hại nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Sơn H.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hùng K.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phùng Đình P.
Căn cứ khoản 1 Điều 48, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn H 03 (Ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (16/5/2024).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (16/5/2024).
- - Xử phạt bị cáo Phùng Đình P 03 (Ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (16/5/2024).
- Trách nhiệm dân sự:
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phải liên đới bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 16.632.000 đồng, chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 5.544.000 đồng.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 3.500.000 đồng, chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.167.000 đồng.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phải liên đới bồi thường cho anh Trịnh Văn T2 số tiền 4.496.500 đồng, chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.499.000 đồng.
- - Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Đại T3 số tiền 7.970.000 đồng, chia theo phần, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 2.657.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô màu đen, số khung RZH115-3002109, số máy 3286796 biển kiểm soát 29D-407.65; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6+ lắp sim số 0932507286.
- - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 xà beng bằng kim loại kích thước (147 x 2,5) cm; 01 xà beng bằng kim loại kích thước (110 x 2,5) cm; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (80 x 2,5) cm; 01 xà cầy bằng kim loại kích thước (78 x 2,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại kích thước (92 x 22,5) cm; 01 kìm cộng lực bằng kim loại kích thước (46 x 12) cm; 01 kìm cắt cáp kích thước (46 x 14) cm; 01 rìu lưỡi bằng kim loại kích thước (77 x 15) cm.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
- Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Sơn H, Nguyễn Hùng K, Phùng Đình P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 543.000 (Năm trăm bốn mươi ba nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM DIỆU OANH |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 25/4/2024, 08/5/2024, 09/5/2024 và ngày 12/5/2024, Nguyễn Sơn H, Phùng Đình P và Nguyễn Hùng K đã 05 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng giá trị tài sản là 57.628.500 đồng.
