TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số:158/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-11-2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Minh Chí
Ông Trần Văn Đoàn
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hà- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 539/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thủy T, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: 170 ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thủy T trình bày:
Hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Trần Thanh T1 đến với nhau do quen biết, vợ chồng kết hôn và chung sống từ năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 119, quyển số 01/2013.
Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Ông T1 không quan tâm đến vợ, con bỏ mặc gia đình. Ông T1 về nhà cha mẹ ruột, tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An ở từ cuối năm 2013 đến nay.
Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm và đã ly thân gần 11 năm nên yêu cầu ly hôn với ông T1.
Về con chung: có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Thủy A, sinh ngày 13/8/2014. Bà Huỳnh Thị Thủy T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu Ông Trần Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông Trần Thanh T1 mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc giải quyết vắng mặt: Bà Huỳnh Thị Thủy T có đơn xin vắng mặt, ông Trần Thanh T1 vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Thủy T và ông Trần Thanh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2013, đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết có tổ chức hòa giải để vợ chồng có điều kiện đoàn tụ nhưng bà T vẫn kiên quyết ly hôn, ông T1 không đến hòa giải. Tòa án đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành và hiện nay vợ chồng không còn sống chung đã lâu.
Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Thủy T với ông Trần Thanh T1.
[4] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T1 có 01 con chung Huỳnh Ngọc Thủy A, sinh ngày 13/8/2014. Bà T yêu cầu nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, ông T1 không gửi văn bản phản đối với yêu cầu của bà T, mặt khác cháu A có nguyện vọng sống với bà T, hiện nay cháu A do bà T nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thủy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 29, 51, 53, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thủy T về việc xin ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thủy T được ly hôn với ông Trần Thanh T1.
Về con chung: Giao cho bà Huỳnh Thị Thủy T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc Thủy A, sinh ngày 13/8/2014. Ông Trần Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thủy T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0013381 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Thảo |
Bản án số 158/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 158/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn vắng mặt
