|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2024/HS-ST
Ngày: 25-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Trần Thị Yến Nhi
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Viết Bằng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 131/TB-TA ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Quốc T – sinh năm 1986, tại Bến Tre
Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân H (đã chết) và bà Lê Thị T1 – sinh năm 1952; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Ngày 12/12/2022, Bùi quốc T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2024 (Có mặt)
- Bị hại: Ông Cao Tiến D – sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Hồng Q – sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H1, anh Phạm Văn C (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quốc T và Nguyễn Văn H1 có mối quan hệ là bạn bè, đều là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định.
Buổi chiều ngày 12/11/2022, H1 điều khiển xe mô tô, kiểu xe Wave (không rõ biển số) chở T đi trên các tuyến đường thuộc khu vực thị trấn T, huyện T nhằm mục đích tìm tài sản của người khác để trộm cắp, bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi đến phía trước nhà ông Cao Tiến D thuộc khu F thị trấn T, huyện T thì phát hiện nhà ông D đã bị dỡ mái, không có người trông coi. Hơn và T liền đi ra phía sau vào nhà thì phát hiện ở trong khuôn viên nhà có 02 cánh cửa tôn, khung bằng sắt (chiều dài mỗi cánh khoảng 02 m, chiều rộng khoảng 60 cm) và 01 cây mai cảnh (có chiều cao 02 m, chu vi gốc 30 cm, tán rộng 01 m trồng trong 01 cái chậu). Sau khi quan sát xong, H1 và T mỗi người liền mang 01 cánh cửa đưa ra xe mô tô của H1, vận chuyển đến tiệm mua bán phế liệu của bà Trần Thị Hồng Q tại khu G thị trấn T, huyện T, bán 02 cánh cửa cho bà Q được 150.000 đồng, H1 và T sử dụng toàn bộ số tiền trên mua ma túy về sử dụng chung và hẹn T đến 04 giờ sáng ngày 13/11/2022 đến nhà ông D để tiếp tục trộm cắp cây mai còn lại thì được T đồng ý.
Khoảng 04 giờ ngày 13/11/2022, H1 điều khiển xe Wave đến nhà T chở T đến căn nhà đã bị tháo dỡ mái nêu trên của ông D, sau đó H1 và T đi từ cửa sau vào nhà, đến vị trí để chậu mai, cùng nhau nhổ cây mai ra khỏi chậu và khiêng ra xe mô tô, H1 ngồi sau ôm cây mai, T điều khiển xe về cất giấu cây mai ở phía sau nhà H1 ở khu I thị trấn T, huyện T rồi đi ngủ.
Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, T và H1 bán cây mai trộm cắp được của ông D cho Phạm Văn C tại khu I thị trấn T, huyện T với giá 1.000.000 (một triệu) đồng. Số tiền bán mai, H1 và T đã bỏ ra 500.000 đồng mua ma túy về sử dụng chung, còn lại 500.000 đồng, H1 và T chia nhau mỗi người 250.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Đến ngày 13/11/2022, sau khi phát hiện tài sản mình bị trộm cắp, ông D đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T trình báo sự việc. Ngày 16/11/2022, biết Cơ quan Công an đang truy tìm cây mai, Phạm Văn C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tự thú hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao nộp lại cây mai, qua đó vụ án được điều tra làm rõ.
Sau khi phạm tội, Bùi Quốc T bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 31/8/2024 bị bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Biên bản định giá và Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 cây mai (chiều cao 02 m, chu vi gốc 0,3m) trị giá 6.500.000 đồng. Tại Biên bản định giá và Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 02 cánh cửa nhà bằng sắt, mỗi cánh có chiều rộng 60 cm (loại cửa tôn khung sắt) trị giá 1.200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại: 7.700.000 đồng.
Theo Cáo trạng số 161/CT-VKSTP-ĐN ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Bùi Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quốc T mức án 10 (Mười) đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Tiến D đã nhận lại tài sản là cây mai, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét; đối với việc khi mua 02 khung cửa sắt do H1 và T thì bà Trần Thị Hồng Q không biết được là tài sản do phạm tội mà có nên không đề nghị xử lý hình sự. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào các ngày 12 và 13/11/2022, tại khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Bùi Quốc T đã có hành vi trộm cắp 02 khung cửa bằng sắt và 01 cây mai có tổng trị giá 7.700.000 đồng (02 khung cửa sắt trị giá 1.200.000 đồng, 01 cây mai trị giá 6.500.000 đồng) của ông Cao Tiến D, sinh năm 1970, ngụ tại khu F thị trấn T, huyện T bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.
Hành vi của Bùi Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Bị cáo T bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành.
[6] Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng do nghiện ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân và bán tài sản kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn H1 là người rủ rê, chở Bùi Quốc T đi cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (vai trò là người thực hành). Hơn có tiền án (là tình tiết tăng nặng “tái phạm”), có nhân thân xấu; bị cáo Bùi Quốc T có nhân thân xấu và trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương. Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 11/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã tuyên phạt Nguyễn Văn H1 mức án 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tuyên phạt Phạm Văn C mức án 03 (Ba) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với H1 là cao hơn so với T.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: 01 cây mai có chiều cao 02 m, chu vi gốc 0,3m hiện đã được trao trả lại cho chủ sở hữu (bút lục 68); đối với 02 khung cửa bằng sắt (của ông Cao Tiến D) và xe mô tô của Nguyễn Văn H1 dùng vào việc phạm tội, xét Nguyễn Văn H1 và bị cáo T đã bán cho bà Trần Thị Hồng Q, sau đó bà Q đã bán phế liệu nên không thu hồi được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào tìm được vật chứng xử lý sau.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Tiến D đã nhận lại tài sản là cây mai, không yêu cầu bồi thường gì khác.
Về biện pháp tư pháp đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 11/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Các vấn đề khác: Đối với bà Trần Thị Hồng Q khi mua 02 khung cửa sắt từ H1 và bị cáo T thì bà Q không biết được là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử, đối với mức hình phạt có phần nhẹ do bị cáo bỏ trốn và bị bắt truy nã, nên Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điều 38, khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- - Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Quốc T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2024.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi Quốc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Bùi Quốc T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2024.
