TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 158/2024/HSST Ngày 21-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn; ông Vũ Quốc Phòng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với:
- + Bị cáo: Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Cán bộ điện lực; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị M1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/10/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội đánh bạc; bị tạm giữ ngày 01/7/2024 chuyển tạm giam từ 10/7/2024 đến ngày 23/7/2024 được chuyển áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh đến nay; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- + Anh Hoàng Đức H, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07h30’ ngày 01/7/2024, tại tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tổ công tác của Công an thị xã D phối hợp cùng Công an phường Đ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự phát hiện một người đàn ông có hành vi điều khiển xe mô tô nhưng không đội mũ bảo hiểm và có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an phường Đ làm việc. Tại đây, người đàn ông này khai tên là Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1985 trú tại thôn L, xã K, huyện P, thành phố Hà Nội, đang công tác tại Điện lực thị xã D, bản thân S có sử dụng điện thoại di động tham gia chơi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với một số người. S không chuyển tổng bảng cho ai mà tự đánh bạc với người chơi. Hiện trong máy điện thoại của S vẫn còn lưu dữ liệu tin nhắn qua ứng dụng Zalo, Telegram của các lần tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trong khuôn khổ giải bóng đá EURO 2024 và C 2024.
Vật chứng thu giữ: Thu của Nguyễn Tuấn S 01 điện thoại Iphone 7 Plus.
Quá trình điều tra xác định từ ngày 20/6/2024 đến ngày 30/6/2024, lợi dụng giải bóng đá Euro 2024 và Copa America năm 2024 đang diễn ra, Nguyễn Tuấn S đã cùng một số đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá, được thua bằng tiền, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21h ngày 20/06/2024, Nguyễn Hữu D nhắn tin qua ứng dụng Zalo đến số điện thoại của S hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển Anh và Đội tuyển Đan Mạch trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024. S trả lời D là “Anh chấp 1 ăn nửa ăn 90”, D nhắn tin lại cho S là “Vào em 1 quả Anh trận 23h” (Nghĩa là D cá độ số tiền 1.000.000đ cho đội tuyển Anh thắng 1 bàn thì thắng kèo nửa tiền là 450.000đ, thắng 2 bàn trở lên thì thắng kèo và lấy về 900.000đ, S đồng ý. Sau đó trận đấu này có kết quả là Đội tuyển Anh hòa Đội tuyển Đ (1-1). Như vậy D đã thua bạc số tiền là 1.000.000đ. Tuy nhiên số tiền này D chưa thanh toán cho S. Số tiền S đánh bạc ngày 20/6/2024 là 1.000.000₫.
Lần thứ hai: khoảng 22h38’ngày 22/06/2024, Nguyễn Hữu D tiếp tục sử dụng điện thoại của mình nhắn tin cho Nguyễn Tuấn S hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển T và Đội tuyển Bồ Đào N trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024, S trả lời “Bồ Đào Nha chấp 1 hòa ăn 90”, sau đó D nhắn tin cho S “Đánh Bồ Đào N 1 phát nhá” (nghĩa là D cá độ số tiền 1.000.000đ cho Đội tuyển Bồ Đào Nha chấp 1 hòa ăn 90, nếu Bồ Đào Nha thắng 01 bàn thì hòa kèo, còn thắng 02 bàn trở lên thì thắng kèo và được lấy về 900.000đ, S đồng ý. Kết quả là Đội tuyển Bồ Đào Nha thắng 3-0. Như vậy D đã thắng bạc số tiền 900.000đ. Trừ vào trận trước nợ S ngày 20/06/2024, thì D còn nợ S 100.000đ. Tổng số tiền S đánh bạc ngày 22/6/2024 là 1.900.000 đồng
Lần thứ ba, khoảng 07h05'ngày 27/06/2024, Nguyễn Tuấn S nhận được tin nhắn qua ứng dụng Telegram của H (là người S mới quen biết, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) với nội dung hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển V và Đội tuyển
Mexico trong khuôn khổ giải bóng đá Copa A năm 2024. Một lúc sau S nhắn tin trả lời là “Mexico chấp hòa, trên ăn 90 và dưới ăn 85”. Thấy S nhắn vậy nên H nhắn tin hỏi xin số tài khoản của S mục đích để chuyển tiền đánh bạc, S nhắn lại cho H với nội dung “Số tài khoản của anh là số điện thoại của ngân hàng M3”, nghĩa là S đăng ký số tài khoản trùng với số điện thoại mà S đang sử dụng là 0984.969.529. Sau đó, H sử dụng số tài khoản 2820188886666 ngân hàng M3 chuyển đến tài khoản 0984969529 ngân hàng M3 của S số tiền 2.000.000đ rồi nhắn tin cho S “Em đánh V được chấp hòa ăn 85 anh nhé”, nghĩa là H sử dụng số tiền 2.000.000đ để cá độ chọn Đội tuyển Venezeula. Nếu V thắng 01 trái trở lên thì thắng số tiền 1.700.000đ, còn hòa thì thắng nửa tiền, S đồng ý. Kết quả Đội tuyển Venezeula thắng 1-0. Như vậy H đã thắng bạc số tiền 1.700.000đ. Tuy nhiên S chưa trả lại cho H số tiền 3.700.000₫ gồm 2.000.000đ tiền gốc H dùng để đánh bạc và 1.700.000đ tiền H thắng bạc của lần cá độ này. Tổng số tiền S đánh bạc ngày 27/6/2024 là 3.700.000đ.
Lần thứ tư, khoảng 20h40'ngày 29/06/2024, Nguyễn Tuấn S nhận được tin nhắn qua ứng dụng Zalo của một người đàn ông tên là T (S chỉ biết tên là T ở khu vực xã T, thị xã D) nhắn tin cho S hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển Ý và Đội tuyển T trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024, S trả lời “Ý chấp hòa thua nửa bỏ 90”. Tuyến sử dụng tài khoản 19034305830014 ngân hàng T2 chuyển khoản cho S số tiền 3.500.000đ rồi nhắn là “Em đánh Ý 3,5 triệu được chấp hòa thua nửa bỏ 90 anh nhé”, nghĩa là T sử dụng số tiền 3.500.000đ để đặt cửa Đội tuyển Ý, nếu Ý thắng 01 bàn trở lên thì T thắng kèo đủ 3.500.000đ, còn nếu Ý hòa thì T thua nửa tiền, S đồng ý. Kết quả trận đấu này Đội tuyển Ý thua 0-2, như vậy T đã thua bạc số tiền 3.500.000₫.
Lần thứ năm, khoảng 21h30'ngày 29/06/2024, H (là người S mới quen biết, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) nhắn tin cho S hỏi kèo tài xỉu trận bóng giữa Đội tuyển Ý và Đội tuyển T trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024, S trả lời “Ý chấp đồng banh ăn 95 dưới ăn 80, tài 2 hòa ăn 95, xỉu ăn 85”. Thấy S nói vậy, H nhắn tin cho S “Em đánh xỉu cả trận Ý và T hòa ăn 85, với số tiền 02 triệu”, nghĩa là H đánh 2.000.000₫ xỉu cả trận nếu có tổng tỷ số 03 bàn thắng trở lên thì thua kèo, có tổng tỷ số dưới 1 bàn thắng thì là thắng kèo và được số tiền 1.700.000đ, còn tổng tỷ số là 02 bàn thắng thì hòa kèo. H nhắn tiếp “Hôm trước tổng của em còn dư 3,7 triệu. Như vậy là em còn dư 1,7 anh nhé”, nghĩa là S còn đang nợ H trận V và M2 số tiền 3.700.000đ, nay H đánh 2.000.000đ, như vậy S còn nợ H 1.700.000đ, S đồng ý. Kết quả là Đội tuyển T thắng 2-0. Như vậy H hòa tiền và S vẫn chưa trả cho H số tiền 3.700.000₫.
Tổng số tiền Nguyễn Tuấn S đánh bạc ngày 29/6/2024 trong trận bóng đá giữa Đội tuyển Ý và Đội tuyển Thụy S1 với người đàn ông tên H và T là 5.500.000đ.
Lần thứ sáu, khoảng 20h50’ngày 30/06/2024, T (S chỉ biết tên là T ở khu vực xã T, thị xã D) gọi điện thoại cho S hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển Anh và Đội tuyển Slovakia trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024. Lúc này S chưa biết kèo nên S nhắn tin trả lời T “Anh chấp 1 thua nửa ăn 95 tài 2 thua nửa ăn 90 xỉu ăn 85”, một lúc sau T nhắn tin cho S “Em đánh 2 triệu Anh chấp 1 thua nửa, ăn 95 anh nhé”, nghĩa là T sử dụng số tiền 2.000.000đ để đặt cửa Đội tuyển Anh. Nếu Đội tuyển Anh thắng 01 bàn thì vẫn thua mất nửa tiền, còn Đội tuyển Anh thắng 02 bàn thì thắng kèo, đồng thời T sử dụng tài khoản 19034305830014 ngân hàng T2 chuyển khoản cho S số tiền 2.000.000đ, S đồng ý. Kết quả là Đội tuyển Anh hòa đội tuyển S3 ở hiệp chính, như vậy T đã thua bạc số tiền 2.000.000đ.
Lần thứ bảy, khoảng 21h13' ngày 30/06/2024, H (là người S mới quen biết, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) nhắn tin cho S hỏi kèo trận bóng giữa Đội tuyển Anh và Đội tuyển Slovakia trong khuôn khổ giải bóng đá EURO năm 2024, S trả lời “Anh chấp 1 thua nửa ăn 95, dưới ăn 85, tài 2 thua nửa ăn 90 xỉu ăn 85”, H nhắn tin cho S là “Vậy anh đánh cho em S2 được chấp 1 ăn nửa 3,7 triệu luôn anh nhé. Dưới ăn 85 anh nhé”, nghĩa là H sử dụng số tiền 3.700.000đ để đặt cửa Đội tuyển Slovakia mà chỉ cần hòa thì thắng kèo 3.145.000đ, còn nếu S2 thua 02 bàn thì H thua kèo, S đồng ý. Kết quả là Đội tuyển Anh hòa Đội tuyển S3 ở hiệp chính, như vậy H đã thắng bạc số tiền 3.145.000 đồng. Số tiền thắng ở lần cá cược này S vẫn chưa trả cho H. Tổng số tiền S đánh bạc với H trong trận này là 3.700.000đ + 3.145.000₫ = 6.845.000₫.
Tổng số tiền Nguyễn Tuấn S đánh bạc ngày 30/6/2024 trong trận bóng đá giữa Đội tuyển Anh và Đội tuyển S2 với người đàn ông tên H và T là 8.845.000đ.
Cáo trạng số 141/CT-VKS- DT ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Tuấn S từ 06 đến 09 tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 7S; truy thu sung quỹ nhà nước đối với Nguyễn Tuấn S số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 14.345.000 đồng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/7/2024, tại TDP N, phường Đ, thị xã D, tổ công tác Công an thị xã D phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Tuấn S. Quá trình kiểm tra đã phát hiện ngày 29/6/2024, tại địa bàn thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Tuấn S đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trong trận đấu giữa Đội tuyển Ý và Đội tuyển T tại giải bóng đá EURO 2024 với đối tượng T và H với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.500.000₫.
Tiếp theo, ngày 30/6/2024, Nguyễn Tuấn S đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trong trận đấu giữa Đội tuyển A và Đội tuyển S4 tại giải bóng đá EURO 2024 với đối tượng T và H với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.845.000đ.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu; phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có ông ngoại, bà ngoại có công với cách mạng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu; đã từng bị kết án về tội đánh bạc nhưng không cải sửa; nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật vì thế cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Đối với các hành vi khác:
Đối với hành vi đánh bạc trong các ngày 20/6/2024, ngày 22/6/2024, 27/6/2024 của Nguyễn Tuấn S: Do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, bản thân S hiện không có tiền án, tiền sự gì về tội đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Công an thị xã D đã xử phạt vi phạm hành chính đối với S là đúng.
Đối với anh Nguyễn Hữu D tham gia đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với Nguyễn Tuấn S ngày 20/06/2024 là 1.000.000đ và đánh bạc ngày 22/06/2024 là 1.900.000đ. Bản thân D chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Công an thị xã D đã xử phạt vi phạm hành chính đối với D là đúng.
Đối với số tài khoản 2820188886666 của ngân hàng M3 mang tên Hoang Duc H2, người đàn ông tên H đã chuyển số tiền 2.000.000đ vào số tài khoản 0984969529 của ngân hàng M3 mang tên Nguyễn Tuấn S vào ngày 27/06/2024: Kết quả điều tra xác định chủ tài khoản 2820188886666 là Hoàng Đức H - sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố Q, phường H, thị xã D. Tại Cơ quan điều tra, anh Hoàng Đức H khai báo hiện tại đang kinh doanh cửa hàng điện thoại và làm dịch vụ chuyển tiền ở tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, ngày 27/06/2024 có một người đàn ông đeo khẩu trang (anh H không quen biết) đến quán thuê anh H chuyển số tiền 2.000.000đ vào số tài khoản 0984969529 của ngân hàng M3 mang tên Nguyễn Tuấn S và không nói lý do chuyển tiền để làm gì. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh H.
Đối với số tài khoản 19034305830014 ngân hàng T2 mang tên Nguyen Quang H3, người đàn ông tên T vào ngày 29/06/2024 đã chuyển số tiền 3.500.000đ và ngày 30/06/2024 đã chuyển số tiền 2.000.000đ đến số tài khoản 0984969529 ngân hàng M3 của Nguyễn Tuấn S. Kết quả điều tra xác định chủ tài khoản 19034305830014 là Nguyễn Quang H1, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang H1 khai báo hiện tại đang kinh doanh cửa hàng điện thoại và làm dịch vụ chuyển tiền tại tổ dân phố số C, phường H, thị xã D. Ngày 29 và 30/06/2024, có một người đàn ông đeo khẩu trang (anh H1 không quen biết) đến quán thuê anh H1 gửi số tiền 3.500.000 đồng và 2.000.000 đồng vào số tài khoản mang tên Nguyễn Tuấn S và không nói lý do chuyển tiền để làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh H1.
Đối với người đàn ông tên H và T đã tham gia đánh bạc cùng Nguyễn Tuấn S: Do S không biết tên tuổi đầy đủ, địa chỉ cụ thể của H và T nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh xử lý theo quy định pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 7S là công cụ S dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với số tiền Nguyễn Tuấn S
đánh bạc trong các ngày 29, 30/6/2024 bị khởi tố, truy tố là: 14.345.000đ, cần truy thu đối với Nguyễn Tuấn S số tiền này sung ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện theo quy định. Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn S phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn S 07 (Bẩy) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến ngày 23/7/2024. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 7S.
- + Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Tuấn S số tiền 14.345.000đ (Mười bốn triệu ba trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn S phải chịu 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc T1 |
TRẦN NGỌC THUẬN
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: năm 2017 bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã được xóa tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình được địa phương xác nhận; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là: điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã
hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường. Nay không ai có ý kiến gì; các đương sự không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
[6] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã D và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố bị cáo Đỗ Như Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Xử phạt: Đỗ Như Q 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Như Q cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Đỗ Như Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ TRẦN NGỌC THUẬN |
Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Tiến H4 từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe. Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 14/12/2020, tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Lê Tiến H4 có hành vi tàng trữ trái phép 09 gói ma túy là Heroine, có tổng khối lượng 0,751 gam, để sử dụng thì bị Công an phường Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy vì vậy cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về nguồn gốc ma túy: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 di động V1; 260.000đ không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô 53V4-8291 và đăng ký của xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến H4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Tiến H4 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000₫ (Hai trăm sáu mươi ngàn đồng).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe.
Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên. Riêng số tiền được chuyển qua tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1. Buộc bị cáo Lê Tiến H4 phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc T1 |
Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là một người nghiện ma túy nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5]Về nguồn gốc ma túy: Do không xác định được là của ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H, xác định đây là vật chứng cấm lưu hành liên quan đến vụ án nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Đ; số tiền 77.000 đồng. Qua đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trương Văn Đ 24( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020.
2. Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT và dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H.
Trả lại cho bị cáo Trương Văn Đ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Đ và số tiền 77.000₫ (Bẩy mươi bẩy nghìn) đồng.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 01/12/2020).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Văn Đ phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Đông |
Bản án số 158/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM về đánh bạc
- Số bản án: 158/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Sơn phạm tội đánh bạc
