TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Nữ Hương Huyền.
Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và ông Nguyễn Văn Hảo
Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện Kểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Kểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Chảo Né K, sinh ngày 11/3/2001 tại Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản NC, xã N C, huyện N Nh, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chảo Cáo D và bà Chảo Khé Ch; vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Chảo Né K 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 24/7/2023; chấp hành xong án phí ngày 12/6/2023 (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: (bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều Kện Knh tế- xã hội đặc biệt khó khăn): bà Km Hồng Thanh- Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
Bị hại: Anh Tẩn Láo S, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn TQ, xã A M S, huyện B X, tỉnh Lào Cai (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Tẩn Láo T, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn T Q, xã A M S, huyện B X, tỉnh Lào Cai (vắng mặt).
Anh Trần Văn K, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố V T, thị trấn B H, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chảo Né K và Tẩn Láo S là bạn cùng làm tại Công ty TNHH Compal có địa chỉ tại khu công nghiệp Bá Thiện, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 17/01/2024, K đến phòng trọ của anh Sở tổ dân phố Bảo Sơn, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc chơi và ở lại, đến sáng ngày 18/1/2024, K hỏi mượn xe mô tô biển Kểm soát 24X1-133.26 của anh Sđể về phòng trọ dọn dẹp, anh Sđồng ý giao xe cho K. Trên đường đi về K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh Snên đã điều khiển xe đi đến khu vực tổ dân phố Vinh Tiến để tìm địa điểm đánh chìa khóa xe mô tô mục đích khi anh Ssơ hở sẽ trộm cắp xe. K gặp 01 người đi đánh chìa khóa dong trên đường nên đã bảo người này đánh cho K một chìa khóa xe mô tô với giá 50.000 đồng, sau khi người này làm xong, K cầm chìa khóa cất vào túi rồi đi về phòng dọn dẹp, sau đó K quay lại phòng trọ trả xe cho anh Srồi đi về.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Sđiều khiển xe đi đến công ty làm việc, lúc này K cũng cầm theo chìa khoá xe mô tô đã đánh sẵn trước đó đi bộ đến công ty (mục đích để trộm cắp xe mô tô của San). Đến nơi, K đi đến tủ đồ cá nhân của San, (tủ số 0938 xưởng A31 ở tầng 1) dùng chìa khóa (làm cùng công ty nên K có giữ 1 chìa khóa tủ để đồ cá nhân chung với San) mở tủ thì thấy bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus và 01 vé gửi xe. K cầm điện thoại và vé gửi xe giấu trong túi quần rồi khóa tủ lại, sau đó đi đến khu vực nhà để xe mô tô tại tầng 4, lấy chìa khóa, mở khóa xe mô tô của San rồi điều khiển xe ra cổng Công ty. Sau khi bảo vệ tra soát vé xe xong, K điều khiển xe đi đến cửa hàng điện thoại Sen Kỳ ở Vinh Tiến, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc gặp anh Trần Văn K là chủ để bán điện thoại. Quá trình mua bán điện thoại anh K hỏi K mật khẩu điện thoại. Do K biết mật khẩu điện thoại của San nên cung cấp mật khẩu và mở được máy. Do vậy anh K không nghi ngờ gì về nguồn gốc điện thoại và thống nhất với K mua chiếc điện thoại của San với giá 1.700.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K điều khiển xe đi về nhà của mình ở tại Bản Nậm Chà, xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, tháo biển Kểm soát xe cất giấu ở ba lô. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 25/01/2024, anh Scó đơn trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Xuyên đề nghị làm rõ đối tượng đã trộm cắp xe và điện thoại của anh. Qua rà soát, Công an huyện Bình Xuyên đã có thông báo cho Công an xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn để phối hợp xác minh đối với K. Ngày 26/01/2024, Công an xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu triệu tập Chảo Né K đến trụ sở Công an xã để làm việc và tạm giữ 01 xe mô tô (không gắn biển Kểm soát), số khung RLHJA3921PY489091, số máy JA39E3111773. Lợi dụng sơ hở K đã bỏ trốn
khỏi địa phương. Cùng ngày 26/01/2024, bà Chảo Khé Ch (là mẹ K) tự nguyện giao nộp biển Kểm soát 24X1-133.26 cho Công an xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn. Công an xã Nậm Chà đã bàn giao xe và biển Kểm soát xe trên cho Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Xuyên để điều tra. Ngày 02/8/2024, Công an huyện Bình Xuyên bắt giữ được Chảo Né K khi đang lẩn trốn tại phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Tại cơ quan điều tra K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Số tiền bán điện thoại K đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 30 ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số khung RLHJA3921PY489091, số máy JA39E3111773 có giá trị là 14.600.000 đồng.
Tại kết luận định giá số 133 ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen loại 32GB đã qua sử dụng có trị giá là 2.700.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 161/CT-VKSBX ngày 28/10/2024, Viện Kểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Chảo Né K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chảo Né K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện Kểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Chảo Né K từ 18 đến 21 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự: khoản 2 Điều 468; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc Chảo Né K phải bồi thường cho anh Tẩn Láo S trị giá chiếc điện thoại là 2.700.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo Chảo Né K là bà Km Hồng Thanh vắng mặt tại phiên tòa nhưng gửi bản bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý Kến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Chảo Né K tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 18/01/2024, tại Công ty Compal Việt Nam có địa chỉ ở khu công nghiệp Bá Thiện, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Chảo Né K đã trộm cắp của anh Tẩn Láo S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus có giá trị là 2.700.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển Kểm soát 24X1- 133.26 có trị giá là 14.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà K trộm cắp là 17.300.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Chảo Né K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định như sau:
“1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần bị đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách hiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2023/HSST ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo Chảo Né K 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:
Đối với anh Trần Văn K là người mua chiếc điện thoại của K nhưng không biết đây là tài sản do K phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bà Chảo Khé Ch (mẹ đẻ K) khi K đi xe về nhà nhưng bà Chình không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 do K trộm cắp rồi đem bán cho anh Trần Văn K sau đó anh K đã bán chiếc điện thoại trên nên cơ quan điều tra không thu hồi được.
Đối với chiếc xe mô tô biển Kểm soát 24X1- 133.26 do K trộm cắp của anh Tẩn Láo S, quá trình điều tra xác định anh Tẩn Láo T cho anh Smượn nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tả là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với chiếc điện thoại di động do K trộm cắp của anh Tẩn Láo S sau đó đem bán cho anh Trần Văn K và không thu hồi được. Anh Syêu cầu Chảo Né K phải có trách nhiệm bồi thường trị giá chiếc điện thoại là 2.700.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo K đồng ý bồi thường cho anh Ssố tiền này. Do đó buộc Chảo Né K phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Tẩn Láo S số tiền 2.700.000 đồng.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự: Bị cáo được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều Kện Knh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Chảo Né K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Chảo Né K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 03/8/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 468; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc Chảo Né K phải bồi thường cho anh Tẩn Láo S số tiền 2.700.000 đồng.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự: Bị cáo được miễn.
- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Nữ Hương Huyền |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
