|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2024/HS-ST;
Ngày: 18/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Diệu Kim.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang, ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2024/TLST-HS ngày 6/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 7/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang V, sinh năm 2001; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Lê Văn H và bà Trần Thị M; vợ con chưa có; Tiền sự: không
Tiền án: 01
Tại Bản án số 62/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2023. Đã nộp án phí ngày 12/01/2023. (Chưa xóa án tích)
Nhân thân: 01
Tại Bản án số 77/2018/HSST ngày 02/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/4/2019. (Không bị coi là có án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1975
- Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1986
Cùng địa chỉ: thôn M, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 02/09/2024, Lê Quang V đi bộ từ nơi ở tại thôn T, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội đến cửa hàng tạp hoá của anh Nguyễn Duy Đ ở thôn M, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội để mua nước ngọt về uống. Khi đến cửa hàng T1, V gặp anh Đ và hỏi mua một chai nước CocaCola, anh Đ liền đi lấy cho V một chai nước CocaCola rồi V đưa cho anh Đ số tiền 16.000 đồng (mười sáu nghìn đồng). Khi trả tiền xong, V quan sát trên bàn làm việc của cửa hàng tạp hóa có 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu đen nên V đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên. Lúc này, V giả vờ nói với anh Đ: “Đổi cho tôi chai nước ngọt CocaCola thành chai nước ngọt Mirinda”, anh Đ đồng ý đổi chai nước CocaCola rồi vào trong gian hàng để tìm chai nước ngọt Mirinda. Khi thấy anh Đ đi vào trong quán, V liền dùng tay phải lấy chiếc điện thoại trên rồi nhét vào cạp quần phía trước, đứng đợi anh Đ để đổi nước. Sau khi đổi nước xong, V đi bộ về hướng thôn C, xã L, huyện H. Khi V đi bộ đến trước cửa số nhà B thuộc thôn M, xã L, V quan sát thấy 01 xe máy nhãn hiệu Honda 82 màu xanh biển số 89F1-6481 của anh Nguyễn Duy P dựng trước cửa nhà, đầu xe hướng về phía trong nhà, đuôi xe hướng ra phía đường L, xe không khóa cổ, khoá càng, chìa khoá vẫn đang cắm ở ổ khoá. V quan sát xung quanh thấy không có người liền cúi xuống nhìn qua khe cửa cuốn, V nhìn vào trong nhà cũng không thấy ai nên V ngồi lên xe, mở khoá điện xe và đề nổ máy rồi đi xe về nơi ở tại thôn T, xã L Khi về đến nơi ở, V sắp xếp quần áo cho vào trong túi đựng quần áo màu nâu và lấy chiếc điện thoại Iphone 13 vừa trộm cắp được từ trong cạp quần, tắt nguồn điện thoại cho vào bên hông của túi xách đựng quần áo, đi lên xe máy mục đích bỏ về quê ở. Khi V đi đến đoạn đường tàu thuộc thôn C, xã L thì bị lực lượng Công an xã L tuần tra phát hiện và mời về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda 82 màu xanh biển số 89F1- 6481; số khung 5531353; số máy 2631670; 01 túi xách màu nâu có kích thước (43x19)cm, bằng vải (do Lê Quang V tự nguyện giao nộp); 02 đoạn video liên quan đến việc trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/9/2024 tại M, L, H, Hà Nội (do anh Nguyễn Duy Đ, anh Nguyễn Duy N cung cấp); 01 giấy đăng ký moto, xe máy số A0007751, đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn T, biển số xe 89F1-6481 (do anh Nguyễn Duy P giao nộp).
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu đen, Lê Quang V khai đã làm rơi tại đoạn đường từ thôn T, xã L đến thôn C, xã L Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, truy tìm nhưng không phát hiện được chiếc điện thoại trên nên chưa thu hồi được vật chứng.
Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H ra yêu cầu định giá tài sản số 3881 yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H định giá đối với các tài sản bị trộm cắp ngày 02/9/2024.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 390/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
“- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda 82 màu xanh biển số 89F1-6481; số khung 5531353; số máy: 2631670, đăng ký lần đầu năm 1998 (xe đã cũ qua sử dụng) thời điểm định giá ngày 02/9/2024 có giá 4.700.000 đồng (bốn triệu bẩy trăm nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc điện thoại iphone 13 màu đen loại 128 G phiên bản quốc tế, máy lắp sim 0934633586 điện thoại cũ, qua sử dụng (định giả qua tài liệu) thời điểm định giá ngày 02/9/2024 có giá 8.786.000 đồng (tám triệu bẩy trăm tám mươi sáu nghìn đồng).”
Tổng cộng: 13.486.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 89F1-6481, số khung: 5531353, số máy: 2631670 mà Lê Quang V đã trộm cắp được ngày 02/9/2024, quá trình điều tra xác định: Chủ đăng ký tên xe mô tô trên là Nguyễn Văn T (sinh năm: 1949, HKTT: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên). Ông T trình bày: Trước đây ông có sử dụng và đăng ký chiếc xe mô tô trên. Sau đó, do không có nhu cầu sử dụng nên ông T đã bán lại cho một nam thanh niên (không rõ tên, tuổi địa chỉ). Khi bán xe, ông T có giao đăng ký xe, không viết giấy tờ. Ông T khẳng định không bị mất trộm. Anh Nguyễn Duy P trình bày: Khoảng năm 2021, anh P mua lại chiếc xe mô tô trên của ông T với giá khoảng 7 đến 8 triệu đồng. Tra cứu xe vật chứng: Chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 18/10/2024, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 3233 trao trả chiếc xe mô tô trên và đăng ký xe mô tô cho anh P. Anh P đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Về bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Duy P đã nhận lại tài sản nên không đề nghị gì. Anh Nguyễn Duy Đ đề nghị Lê Quang V phải bồi thường số tiền là 8.786.000 đồng (tám triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
* Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKSHĐ ngày 30/10/2024, VKSND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lê Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng VKS truy tố. Đại diện VKSND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Áp dụng Khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS : Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội: Trộm cắp tài sản; Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.
-Về dân sự: Ghi nhận ông P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự, ông Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.786.000 đồng là phù hợp.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu nâu có kích thước (43x19)cm, bằng vải của Lê Quang V
-Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo bày tỏ sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 02/9/2024, tại cửa hàng tạp hóa của anh Nguyễn Duy Đ thuộc thôn M, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội, Lê Quang V có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu đen loại 128G của anh Đ, có giá trị 8.786.000 đồng. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại, tại trước cửa nhà số B thuộc thôn M, xã L, V tiếp tục có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số: 89F1-6481 của anh Nguyễn Duy P, có giá trị 4.700.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản mà Lê Quang V đã trộm cắp là 13.486.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố và kết luận bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
- - Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g,h khoản 1 Điều 52BLHS.
- - Bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng không chịu khó lao động, lợi dụng sơ hở của người khác lén lút trộm cắp tài sản để tiêu sài cá nhân, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân, do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian theo như đề nghị của VKSND huyện Hoài Đức mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời có tác dụng giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về dân sự: Ông Nguyễn Duy P không có yêu cầu bồi thường dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Duy Đ số tiền 8.786.000 đồng là phù hợp quy định.
[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách bằng vải nâu đã qua sử dụng kích thước (43x19)cm của Lê Quang V sử dụng vào việc phạm tội.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Quang V 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/9/2024.
* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách bằng vải nâu đã qua sử dụng kích thước (43x19)cm của Lê Quang V
(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP . theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an huyện H, TP . và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP.).
* Về dân sự: Ghi nhận bị hại là ông Nguyễn Duy P đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Duy Đ số tiền 8.786.000 đồng (tám triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả số tiền lãi theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tại thời điểm trả.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 439.000₫ (Bốn trăm ba mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Diệu Kim |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Mạnh Khang Nguyễn Văn H1 |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Diệu Kim |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Vinh
