Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày 29/10/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thị Vân Khánh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Nam
  • Bà Lê Thị Hồng Thanh
  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Kim T, sinh năm 1995, tại Đồng Nai; nơi cư trú: tổ I, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Đặng Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; anh chị em ruột: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1980, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; có vợ tên Bùi Thị Minh H, sinh năm 1997, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay.

  2. Đặng Kim T1, sinh năm 2003, tại Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện nay: khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông (không rõ) và bà Đặng Kim H1 (đã chết); anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con lớn nhất, nhỏ nhất sinh năm 2010; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay.

- Người chứng kiến: anh Đặng Ngọc H2, sinh năm 1999. Địa chỉ: khu phố D, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

(Bị cáo có mặt, người chứng kiến vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Kim T và Đặng Kim T1 cùng trú tại khu phố B, phường B, thành phố L, Đồng Nai, có mối quan hệ là cậu cháu với nhau, cả hai cùng là đối tượng nghiện ma tuý, đã có hành vi tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06/06/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave mang biển số 60B2- 764.07 đến phòng trọ của T1 tại tổ A, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, chơi và rủ T1 mua ma túy về để cùng nhau sử dụng, T1 đồng ý. T dùng điện thoại di động của T gọi cho đối tượng tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) qua số điện thoại 0398.023.xxx để hỏi mua ma túy với giá tiền là 200.000 đồng (loại ma túy đá). V đồng ý và hẹn T đến khu vực nghĩa địa S, thuộc phường B, thành phố L để giao và nhận ma túy. Sau đó, T đưa xe mô tô và số tiền 200.000 đồng cho T1 rồi nói T1 đến đi đến khu vực nghĩa địa S thuộc phường B, thành phố L gặp V để lấy ma túy. Sau khi mua được ma túy từ V, T1 điều khiển xe và mang ma túy về phòng trọ. Tại đây, T1 lấy ra bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý của mình cất giấu từ trước rồi cho ma tuý vào nỏ, dùng quẹt lửa hơ nóng ma túy và cùng với T sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, khi T và T1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì Công an phường S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá bên trong nỏ thuỷ tinh còn một ít ma tuý đá chưa kịp sử dụng hết, 02 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy. Công an phường S lập biên bản thu giữ tang vật đưa T và T1 về cơ quan công an làm việc và tiến hành niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 1207/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng- nâu bám dính trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamnie, mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại Bản Cáo trạng số 163/CT-VKSLK ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố các bị cáo Đặng Kim Tuấn và Đặng Kim Trung về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như bản cáo trạng trên và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm; xử phạt bị cáo T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Vật chứng vụ án: Đề nghị tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định, 01 chai nhựa hiệu Wordenfarm có nắp màu đỏ gắn ống hút, 01 bật lửa gas; Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Relmi, gắn sim 0909444597; 01 (một) điện thoại Iphone 12 gắn sim 0989881712 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển số 60B2-764.07.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
  2. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên toà, các bị cáo T và T1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 06/6/2024 tại phòng trọ số 3 nhà trọ anh Ú thuộc tổ A, khu phố N, phường S, thành phố L, Công an phường S phát hiện, bắt quả tang các bị cáo Đặng Kim T và Đặng Kim T1 đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ có 01 ống thủy tinh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là ma túy loại Methamphetamine.

    Như vậy, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo T và T1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  3. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: các bị cáo là công dân có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, dù biết ma túy là vật bị nhà nước nghiêm cấm tàng trữ và sử dụng trái phép nhưng vẫn cố tình cất giấu và sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cao cho xã hội. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

    Trong vụ án này, các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành, bị cáo T là người chủ động rủ rê, cung cấp tiền và xe máy để bị cáo T1 đi mua ma túy, còn bị cáo T1 khi được T rủ đã tích cực hưởng ứng bằng cách đi mua ma túy và chuẩn bị công cụ để cùng sử dụng ma túy với T, do đó mức hình phạt của T cao hơn bị cáo T1.

  4. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với các bị cáo:

    Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, gia đình bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  5. Về vật chứng:
    • 01 (Một) bịch niêm phong số 1207/KL-KTHS ngày 13/6/2024; 01 chai nhựa hiệu Wordenfarm có nắp màu đỏ gắn ống hút, 01 bật lửa gas là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Relmi, gắn sim 0909444597; 01 (một) điện thoại Iphone 12 gắn sim 0989881712, số Imei: 353776399297462 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển số 60B2- 764.07 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  6. Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim T và Đặng Kim T1, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Đặng Kim T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
    • - Xử phạt: Bị cáo Đặng Kim T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bịch niêm phong số 1207/KL-KTHS ngày 13/6/2024; 01 chai nhựa hiệu Wordenfarm có nắp màu đỏ gắn ống hút, 01 bật lửa gas.
    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Relmi, gắn sim 0909444597; 01 (một) điện thoại Iphone 12 gắn sim 0989881712, số Imei: 353776399297462 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển số 60B2-764.07.

    (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HĐXX SƠ THẨM

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Vân Khánh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp Long Khánh;
  • - VKSND Tp Long Khánh;
  • - Bị cáo; Nhà tạm giữ CATp Long Khánh;
  • - CQ CSĐT Công an Tp Long Khánh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Kim T 2 năm 3 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger