Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày: 04/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Thúy và ông Ngô Đình Tưu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: ông Lê Đại - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27/9/2024 và ngày 04/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2024/TLST - HS ngày 16/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 17/11/1986 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Phạm Văn N (sinh năm 1953); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B (sinh năm 1955); Anh chị em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Họ và tên chồng: Phan Hữu T1 (sinh năm 1984); Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền sự, Tiền án: không; Bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến ngày 08/5/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/11/1972 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Hoàng Văn T3 (sinh năm 1944); Họ và tên mẹ: Đoàn Thị T4 (Chết); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H1 (Sinh năm 1978); Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Ngô Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/10/1974 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Ngô B1 (Chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L (sinh năm 1952); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị B2 (Sinh năm 1972); Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tự thú và bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/02/1965 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên cha: Nguyễn N1 (Chết); Họ và tên mẹ: Thái Thị Q (Chết); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư trong gia đình; Họ và tên vợ: Ngô Thị T5 (Chết); Con: có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tự thú và bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Thái Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/9/1986 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Thái Bá B3 (sinh năm 1962); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L1 (Sinh năm 1964); Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ nhất trong gia đình; Họ và tên vợ: Trần Thị Mai P (Sinh năm: 1989); Con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Ngô Thị T6; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 15/4/1981 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Ngô B1 (Chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L (Sinh năm 1952); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Họ và tên chồng: Phan Bình N2 (Sinh năm 1977); Con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tự thú và bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2024, Phạm Thị T nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề thắng thua bằng tiền nên tìm kiếm người chơi trên địa bàn huyện D để nhận đánh bạc. Thông qua các mối quan hệ quen biết, Phạm Thị T đánh bạc với Ngô Văn K, Ngô Thị T6, Nguyễn Đ, Thái Văn D, Hoàng T2.

Cách thức đánh bạc như sau: chơi số lô, số đề, việc tính tiền thắng thua do đánh bạc được căn cứ vào cơ cấu giải thưởng của Xổ số kiến thiết miền Bắc quay thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày, có 27 giải thưởng bao gồm: 01 giải đặc biệt; 01 giải nhất; 02 giải nhì; 06 giải ba; 04 giải tư; 06 giải năm; 03 giải sáu và 04 giải bảy để đối chiếu, tính thắng, thua sau đó gặp nhau và thanh toán số tiền thắng thua cho nhau.

Đánh L2: là cách đánh theo hai chữ số sau cùng của cả 27 giải thưởng. Người đánh lô sẽ đánh theo điểm, mỗi điểm lô có giá 23.000 (hai mươi ba nghìn) đồng. Nếu đánh trùng hai chữ số cuối cùng của bất cứ một trong 27 giải thưởng thì được hưởng mỗi điểm đánh là 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng). Nếu trong 27 giải thưởng có bao nhiêu lần xuất hiện hai chữ số sau cùng trùng với số lô mà người chơi đã đánh thì được nhân thêm bấy nhiêu lần (số điểm x 80.000 đồng x số lần trúng) mỗi lần nhân gọi là 01 nháy, việc tính trúng thưởng giới hạn số lần xuất hiện số lô đã đánh là 3 lần.

Đánh Đ1: là cách đánh theo hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, người đánh đề nếu đánh trùng hai chữ số cuối cùng của giải đặc biệt thì mới được hưởng gấp 70 lần số tiền mà mình bỏ ra ban đầu để đánh số đề đó (số tiền ban đầu x 70 lần).

Đánh xiên: là cách đánh theo hai chữ số sau cùng của cả 27 giải thưởng. Người chơi có thể đánh bộ hai số, bộ ba số, bộ bốn số nếu cả bộ số đều trùng với hai chữ số cuối cùng của 27 giải thưởng thì trúng thưởng, trúng xiên hai được gấp 10 lần tiền đánh ban đầu, trúng xiên ba thì được gấp 40 lần tiền đánh ban đầu, trúng xiên 4 ăn gấp 100 lần tiền đánh.

Đánh ba càng: là cách đánh theo ba chữ số cuối cùng của giải đặc biệt, người đánh ba càng nếu đánh trùng ba chữ số cuối cùng của giải đặc biệt thì mới được hưởng gấp 300 lần số tiền mà mình bỏ ra ban đầu để đánh số đề đó (số tiền ban đầu x 300 lần).

Quá trình đánh bạc giữa các bị cáo cụ thể như sau:

  • - Hành vi đánh bạc giữa Thái Văn DPhạm Thị T ngày 17/3/2024:

    Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 17/3/2024, Thái Văn D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại A15, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0963.045.368 nhắn tin đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc: đề số 47 với số tiền 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, đề số 74 với số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng; lô số 38, 83 mỗi số đánh 25 điểm, tổng số tiền đánh bạc ban đầu là 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 17/3/20234, Thái Văn D đánh trúng số lô 83 với 25 điểm, 02 nháy thành tiền là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Thái Văn DPhạm Thị T trong ngày 17/3/2024 là 5.300.000 (năm triệu ba trăm nghìn) đồng.

  • - Hành vi đánh bạc giữa Nguyễn ĐPhạm Thị T ngày 22/3/2024:

    Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 22/3/2024, Nguyễn Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh đen chứa sim mang số thuê bao 0989.316.442 gọi điện đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc: bao đề đầu 7 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng, tức đề số 70, 71, 72, 73, 74, 75 ,76, 77, 78, 79 mỗi số đánh 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 17/3/2024, Nguyễn Đ đánh trúng đề số 71 số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng, được hưởng 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa nguyễn Đ và Phạm Thị T trong ngày 22/3/2024 là 8.000.000 (tám triệu) đồng.

  • - Hành vi đánh bạc giữa Ngô Thị T6Phạm Thị T ngày 31/3/2024, 02/4/2024:

    + Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 31/3/2024, Ngô Thị T6 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1010, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0387.794.171 gọi điện thoại đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc: lô số 63, 96 mỗi số 200 điểm, lô số 01, 10 mỗi số 100 điểm, tổng cộng 600 điểm lô, tương đương 13.800.000 (mười ba triệu tám trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 31/3/2024, Ngô Thị T6 không đánh trúng số lô nào nên thua hết 13.800.000 (mười ba triệu tám trăm nghìn) đồng tiền đánh bạc. Tổng số tiền đánh bạc giữa Ngô Thị T6Phạm Thị T trong ngày 31/3/2024 là 13.800.000 (mười ba triệu tám trăm nghìn) đồng.

    + Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 02/04/2024, Ngô Thị T6 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1010, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0387.794.171 gọi điện thoại đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc lô số 75, 34, 35, 05 mỗi số 200 điểm, tổng cộng 800 điểm lô, tương đương 18.400.000 (mười tám triệu bốn trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 02/4/2024, Ngô Thị T6 đánh trúng lô số 05, 35 mỗi số 01 nháy, được hưởng 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Ngô Thị T6Phạm Thị T trong ngày 02/4/2024 là 50.400.000 (năm mươi triệu bốn trăm nghìn) đồng.

  • - Hành vi đánh bạc giữa Hoàng T2Phạm Thị T ngày 07/4/2024:

    Khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 07/4/2024, Hoàng T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F5, màu trắng, chứa sim mang số thuê bao 0799.058.908 nhắn tin đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc: số lô 00 số tiền 25 điểm; số lô 38, 83, 74 mỗi số 15 điểm; số lô 16, 61, 03, 30, 19, 91, 33, 88, 55, 14, 41, 25, 52, 47, 87, 44, 97, 41, 73, 45, 12, 21, 55, 37, 73, 25, 52 mỗi số 05 điểm; Số đề 90 số tiền 1.020.000 (một triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng; số đề 14, 94 mỗi số 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; số đề 55, 95 mỗi số 25.000 (hai mươi lăm nghìn) đồng); số đề 38, 83, 17, 57, 91, 19, 52 mỗi số 10.000 (mười nghìn) đồng; xiên ba số (61-14-47) số tiền 20.000 (hai mươi nghìn) đồng); xiên hai số (19-91) với múc 20.000 (hai mươi nghìn) đồng.

    Khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, Hoàng T2 tiếp tục sử dụng cách thức như trên nhắn tin cho Phạm Thị T để đánh bạc: số lô 45, 54, 22, 77, 27, 72, 09, 90 mỗi số 05 điểm; Số đề 90 số tiền 205.000 (hai trăm linh năm nghìn) đồng, số đề 08 số tiền 30.000 (ba mươi nghìn) đồng, số đề 59 số tiền 25.000 (hai mươi lăm nghìn) đồng; Số đề: 04, 40, 09, 23, 32, 28, 82, 78, 87, 45, 54, 95, 36, 63, mỗi “số” đánh 5.000đ, tổng số tiền là 80.000 (tám mươi nghìn) đồng; Bao số đề đuôi 0 số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; Ba càng số 736, 763 mỗi số 30.000 (ba mươi nghìn) đồng.

    Tổng số tiền đánh bạc ban đầu giữa Hoàng T2Phạm Thị T trong ngày 07/4/2024 là 7.605.000 (bảy triệu sáu trăm linh năm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 07/4/2024, Hoàng T2 đánh trúng 80 điểm lô, được hưởng 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Hoàng T2Phạm Thị T trong ngày 07/4/2024 là 14.005.000 (mười bốn triệu không trăm linh năm nghìn) đồng.

  • - Hành vi đánh bạc giữa Ngô Văn KPhạm Thị T ngày 07/4/2024:

    Khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 07/4/2024, Ngô Văn K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại A15, màu trắng, chứa sim mang số thuê bao 0395.768.981 nhắn tin đến điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen chứa sim mang số thuê bao 0979.176.137 của Phạm Thị T để đánh bạc: Đề số 73 số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; đề số 39, 93 mỗi số 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; đề số 48, 49, 69 mỗi số 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; đề số 17 số tiền 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng; đề số 71 số tiền 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng; đề số 28, 82 mỗi số 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; đề số 38, 83, 37, 73, 88, 36 mỗi số 20.000 (hai mươi nghìn) đồng; bao số đề đầu 2 số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng; ba càng số 473 số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng; ba càng số 729, 792 mỗi số 20.000 (hai mươi nghìn) đồng; xiên hai số (17, 73) số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; xiên ba số (39, 93, 17) (17, 39, 73) mỗi bộ số 100.000 (một trăm nghìn) đồng; lô số 17, 73 mỗi số 15 điểm; lô số 39 số tiền 10 điểm; lô số 37 số tiền 5 điểm tức mỗi số 5 điểm.

    Tổng số tiền đánh bạc ban đầu giữa Ngô Văn KPhạm Thị T trong ngày 07/4/2024 là 4.615.000 (bốn triệu sáu trăm mươi lăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 07/4/2024, Hoàng T2 đánh trúng 70 điểm lô, được hưởng 5.600.000 (năm triệu sáu trăm nghìn) đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Ngô Văn KPhạm Thị T trong ngày 07/4/2024 là 10.215.000 (mười triệu hai trăm mười lăm nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS-DC ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Thị T6 về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và các bị cáo Hoàng T2, Ngô Văn K, Nguyễn Đ, Thái Văn D về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9 /2024). Phạt tiền bổ sung 30 đến 35 triệu đồng.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 54; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị T6 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9 /2024). Phạt tiền bổ sung từ 25 đến 30 triệu đồng.

Căn cứ khoản 3 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Hoàng T2 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, r, s khoản 1 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, r, s khoản 1 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập mỗi tháng 300.000 nghìn đồng tương ứng với thời hạn cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự

Phạt tiền bị cáo Thái Văn D từ 20 đến 25 triệu đồng.

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc, cụ thể Phạm Thị T 46.720.000 đồng; Ngô Thị T6: 22.000.000 đồng; Hoàng T2 6.400.000 đồng; Ngô Văn K: 5.600.000 đồng; Ngô Văn K 5.600.000 đồng; Thái Văn D 4.000.000 đồng và Nguyễn Đ 7.000.000 đồng.

- Về vật chứng:

01 (Một) tờ giấy kẻ ngang, trên đó có viết các chữ số lô, số đề hiện đã chuyển hóa thành tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, chứa sim số thuê bao 0979176137, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng chưa tìm được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm vật chứng trên, khi tìm được sẽ xử lý sau.

Tịch thu nộp ngân sách đối với các vật chứng gồm: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A15, màu đen, số seri: RF8X11DR55H, lắp sim số: 0963045368, điện thoại đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ ngoài màu xanh đen, số IMEI1: 355076047545091, lắp sim số: 0989316442, điện thoại đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu trắng đen, số Model: CPH1723, lắp sim số: 0779058908, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt nẻ;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, số IMEI1: 869559055587054, số IMEI2: 869559055587047, lắp sim số: 0395768981, điện thoại đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1010, vỏ ngoài màu đen, số IMEI: 357678103414126, lắp sim số: 0387794171, điện thoại đã qua sử dụng

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78, màu đen, số IMEI1: 869008064821435, IMEI2: 869008064821427, lắp sim số: 0978676447, điện thoại đã qua sử dụng.

Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 24NK125 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2024.

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của cá bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/3/2024 đến ngày 07/4/2024, trên địa bàn huyện D, tỉnh Nghệ An, Phạm Thị T đã thực hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề thắng thua bằng tiền với Thái Văn D, Nguyễn Đ, Ngô Thị T6, Hoàng T2, Ngô Văn K, cụ thể: Phạm Thị T đánh bạc với Thái Văn D vào ngày 17/3/2024 với tổng số tiền 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng); đánh bạc với Nguyễn Đ vào ngày 22/3/2024 với tổng số tiền là 8.000.000 đồng; đánh bạc với Ngô Thị T6 02 lần vào các ngày 31/3/2024 với tổng số tiền 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm nghìn đồng) và ngày 02/4/2024 với tổng số tiền là 50.400.000 đồng (Năm mươi triệu bốn trăm nghìn đồng); đánh bạc với Hoàng T2 vào ngày 07/4/2024 với tổng số tiền 14.005.000 đồng (Mười bốn triệu không trăm lẻ năm nghìn đồng); đánh bạc với Ngô Văn K vào ngày 07/4/2024 với tổng số tiền là 10.215.000 đồng (Mười triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) nên ngày 07/4/2024, Phạm Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền đánh bạc là 24.130.000 đồng (Hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

Các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, mục đích và động cơ của các bị cáo là vụ lợi. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phạm Thị TNgô Thị T6 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 2 điều 321 Bộ luật hình sự; các bị cáo Hoàng T2, Ngô Văn K, Nguyễn Đ, Thái Văn D phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố các bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tính chất vụ án nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, đánh bạc là một tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm dưới mọi hình thức. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để có tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò và nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, trong vụ án này các bị cáo đều là những người trực tiếp tham gia đánh bạc nên cũng cần phải xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để lên một mức án sát đúng.

Phạm Thị T giữ vai trò chủ yếu trong vụ án với vai trò nhận các số lô, số đề và tham gia đánh bạc cùng năm bị cáo còn lại, có số tiền đánh bạc lớn, Ngô Thị T6 tham gia đánh bạc với số tiền nhiều thứ hai, đa dạng hình thức đánh hơn các bị cáo còn lại nên hành vi đánh bạc của bị cáo có tính chất nguy hơn các bị cáo còn lại. Vì vậy, cần xem xét lên cho các bị cáo mức án nặng hơn so với các bị cáo khác để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân tốt; bị cáo Ngô Văn K, Nguyễn Đ sau khi phạm tội đã tự thú; các bị cáo Thái Văn D1, Ngô Thị T6Hoàng T2 sau khi phạm tội đã đầu thú; các bị cáo Thái Văn D, Nguyễn Đ, Hoàng T2Ngô Văn K đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Phạm Thị T có bố, mẹ được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng bằng khen vì đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo Hoàng T2 có mẹ là người có công với cách mạng. Bản thân bị cáo Phạm Thị TNgô Thị T6 đông con, đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, bị cáo Ngô Thị T6 đã tự nguyện nộp một phần tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.

- Tình tiết tăng nặng: Từ ngày 17/3/2024 đến ngày 07/4/2024, Phạm Thị T đánh bạc với các đối tượng 06 lần, Ngô Thị T6 đánh bạc 02 lần vào các ngày 31/3/2024 và ngày 02/4/2024 nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Thị T6, Hoàng T2Ngô Văn K có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ nghiêm và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định cho Ngô Thị T6 hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Xét bị cáo Nguyễn Điệu H2 đang nuôi con tàn tật nên có hoàn cảnh khó khăn, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập trong thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Thái Văn D chỉ cần áp dụng hình phạt phạt tiền đối với các bị cáo là thỏa đáng.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 điều 321 BLHS quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng”, xét các bị cáo Phạm Thị TNgô Thị T6 có thu nhập kinh tế ổn định nên cần áp dụng hình phạt bổ sung để nộp ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hoàng T2Ngô Văn K.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc, cụ thể: Phạm Thị T 46.720.000 (Bốn mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn) đồng; Ngô Thị T6 đánh bạc với số tiền 32.000.000 đồng, đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0011790 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu nên cần buộc bị cáo nộp lại 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng; Hoàng T2 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng; Ngô Văn K: 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm nghìn) đồng; Thái Văn D 4.000.000 (Bốn triệu) đồng và Nguyễn Đ 7.000.000 (Bảy triệu) đồng.

- Về vật chứng:

01 (Một) tờ giấy kẻ ngang, trên đó có viết các chữ số lô, số đề, hiện đã chuyển hóa thành tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, chứa sim số thuê bao 0979176137, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng chưa tìm được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, truy tìm vật chứng trên, khi tìm được sẽ xử lý sau.

[8]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bị cáo phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Thị T6, Hoàng T2, Ngô Văn K, Nguyễn Đ, Thái Văn D đều phạm tội “Đánh bạc”.

2/ Về hình phạt:

1. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9 /2024). Phạt tiền bổ sung 30 (ba mươi) triệu đồng.

2. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 54; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị T6 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9 /2024). Phạt tiền bổ sung 20 (hai mươi) triệu đồng.

3. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Hoàng T2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung.

4. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, r, s khoản 1 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Giao các bị cáo Ngô Văn K, Ngô Thị T6 cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phạm Thị T cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng T2 cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

5. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, r, s khoản 1 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 06 ngày tạm giữ (từ ngày 08/4/2024 đến ngày 14/4/2024) tương đương với 18 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải thi hành 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện D nhận được quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Đ cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.

6. Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự

Phạt tiền bị cáo Thái Văn D 20 (hai mươi) triệu đồng.

3/ Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc, cụ thể: Phạm Thị T 46.720.000 (Bốn mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn) đồng; Ngô Thị T6 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng; Hoàng T2 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng; Ngô Văn K: 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm nghìn) đồng; Thái Văn D 4.000.000 (Bốn triệu) đồng và Nguyễn Đ 7.000.000 (Bảy triệu) đồng.

4/ Về vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (Một) tờ giấy kẻ ngang, trên đó có viết các chữ số lô, số đề hiện đã chuyển hóa thành tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Tịch thu nộp ngân sách

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A15, màu đen, số seri: RF8X11DR55H, lắp sim số: 0963045368, điện thoại đã qua sử dụng;

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ ngoài màu xanh đen, số IMEI1: 355076047545091, lắp sim số: 0989316442, điện thoại đã qua sử dụng;

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu trắng đen, số Model: CPH1723, lắp sim số: 0779058908, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt nẻ;

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, số IMEI1: 869559055587054, số IMEI2: 869559055587047, lắp sim số: 0395768981, điện thoại đã qua sử dụng;

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1010, vỏ ngoài màu đen, số IMEI: 357678103414126, lắp sim số: 0387794171, điện thoại đã qua sử dụng

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78, màu đen, số IMEI1: 869008064821435, IMEI2: 869008064821427, lắp sim số: 0978676447, điện thoại đã qua sử dụng.

Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số 24NK125 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2024.

5/ Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Thị T6, Hoàng T2, Ngô Văn K, Nguyễn Đ, Thái Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Thị T, Ngô Thị T6, H, Ngô Văn K, Nguyễn Đ, Thái Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Các bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 04/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về hình sự: đánh bạc

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger