|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 158/2024/HS-PT Ngày 30-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Bà Vũ Thị Bích Diệp
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 126/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1998 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm C, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang M và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Nguyễn Thị L, có 01 con; nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/12/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư Công ty TNHH Q thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T đã học lái xe hạng C tại Sở G vào tháng 9/2020 nhưng sau đó bỏ học và T chưa thi sát hạch lái xe lần nào. Do không có giấy phép lái xe ô tô hạng C nên đến năm 2021, T vào mạng Internet đặt mua Giấy phép lái xe hạng C giả để sử dụng, nhằm tránh không bị lực lượng chức năng xử phạt khi điều khiển xe ô tô. Sau đó khoảng 02 tuần T nhận được giấy phép lái xe hạng C loại thẻ cứng, nền vàng số [...] mang tên Nguyễn Văn T, cấp ngày 15/12/2021 có giá trị đến ngày 15/12/2026; trên nền thẻ có dấu tròn mực đỏ của Sở G và chữ ký của người có tên Trần Anh T1 gửi đến nhà thông qua một người giao hàng (chưa rõ thông tin, lai lịch). Sau khi kiểm tra nội dung trên giấy phép lái xe trùng khớp với các thông tin cá nhân, T đưa cho người giao hàng số tiền 2.000.000 đồng. Khoảng tháng 9/2023, T đến Công ty Cổ phần X, trụ sở: Số A Đường M, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng xin làm lái xe chuyên vận chuyển bê tông và được bố trí thử việc tại trạm trộn bê tông tại Cảng T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng.
Khoảng 20 giờ ngày 11/10/2023, T được phân công điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát: 15H-019.51 chở bê tông tươi từ trạm trộn bê tông thuộc Cảng Tự L đến giao tại trạm bê tông gần C, Quận N, thành phố Hải Phòng. Khi giao bê tông xong, T điều khiển xe đi về Cảng T. Khoảng 21 giờ cùng ngày khi T đi đến khu vực trước số F B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị Đội Cảnh sát Giao thông số B - Phòng C Công an thành phố H dừng xe do lỗi vi phạm “đi vào đường có biển báo hiệu có nội dung cấm đi vào đối với loại phương tiện đang điều khiển” và yêu cầu xuất trình giấy tờ để kiểm tra. T đã xuất trình cho lực lượng Cảnh sát giao thông 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn T, số [...] do Sở G cấp ngày 15/12/2021. Do nghi ngờ là giấy phép lái xe giả nên Đội Cảnh sát giao thông số B đã tạm giữ phương tiện và giấy tờ và lập biên bản vi phạm hành chính để kiểm tra, xác minh. Biết hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả của mình sẽ bị cơ quan chức năng phát hiện nên cùng ngày T đã đến Công an phường H đầu thú.
Tại Bản Kết luận giám định số 274/KL-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “01 Giấy phép lái xe số: [...]; Hạng C; Họ tên: NGUYỄN VĂN T; Ngày sinh: 05/3/1998; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: X . V, H.Yên Thành, T.Nghệ An; ghi ngày cấp: 15/12/2021 và ghi nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh G là giả”.
Vật chứng của vụ án: 01 Giấy phép lái xe số [...]; Hạng C; Họ tên: NGUYỄN VĂN T; Ngày sinh: 05/3/1998; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: X . V, H.Yên Thành, T.Nghệ An; ghi ngày cấp: 15/12/2021 và ghi nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh G, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 58/CT-VKSHB, ngày 17/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí đối với bị cáo và quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo T sử dụng giấy phép lái xe giả của cơ quan, tổ chức nhưng bị cáo chưa gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, tổ chức; chưa gây thiệt hại về tính mạng và sức khỏe cá nhân nào. Hiện nay, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang là lao động chính, bị cáo có con còn nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để cho bị cáo sớm được trở về chăm sóc con nhỏ.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội cũng như vai trò của từng bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (S) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là phù hợp với pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn xét xử sơ thẩm; phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T chưa có giấy phép lái xe ô tô hạng C, chưa tham gia thi sách hạch cấp giấy phép lái xe ô tô nhưng lại mua và sử dụng 01 giấy phép lái xe số [...], hạng C, cấp ngày 15/12/2021 có giá trị đến ngày 15/12/2026 mang tên Nguyễn Văn T để điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, vi phạm đi vào đường có biển báo cấm đi vào, bị cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện, qua giám định là giấy phép lái xe giả. Hành vi trên của Nguyễn Văn T đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng mức hình phạt khởi điểm đối với bị cáo trong khung hình phạt là không nặng. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo nộp đơn xin xác nhận giữa bị cáo và ông Nguyễn Văn V có quan hệ ông cháu và ông Nguyễn Văn V được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng Khen vì có thành tích tham gia trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngoài ra, bị cáo nộp đơn gửi Công an xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An là bị cáo có hỗ trợ tiền bạc, công sức để khắc phục hậu quả do dịch Covid-19 gây ra. Hội đồng phúc thẩm xét: Việc ông Nguyễn Văn V là ông nội của bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng Khen vì có thành tích tham gia trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng lại tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này. Đối với việc bị cáo trình bày đã tham gia hỗ trợ tiền bạc, đóng góp công sức để khắc phục hậu quả do dịch Covid-19 gây ra. Tuy nhiên, chưa có nội dung nào của Công an xã V cũng như UBND xã V xác nhận nội dung bị cáo đã tham gia hỗ trợ tiền bạc, đóng góp công sức để khắc phục hậu quả do dịch Covid-19 gây ra. Do bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Về đề nghị của người bào chữa cho bị cáo T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Trong vụ án này, mặc dù bị cáo T đã sử dụng giấy phép lái xe giả để điều khiển xe ô tô trộn Bê tông, bị cáo chưa gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng như chưa gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho cá nhân nào. Tuy nhiên, việc bị cáo sử dụng Giấy phép lái xe ô tô giả là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo điều khiển xe ô tô trộn Bê tông là loại xe ô tô có tải trọng lớn khi chưa được đào tạo, chưa được tham gia thi sát hạch nên rất dễ gây ra tai nạn. Hành vi bị cáo sử dụng Giấy phép lái xe ô tô giả khi điều khiển phương tiện là xe ô tô có tải trọng lớn là cực kỳ nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ rất lớn về tai nạn giao thông, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản của chính bị cáo và những người tham gia giao thông khác. Thực tế, trong vụ án này bị cáo T đã điều khiển xe ô tô trộn Bê tông đi vào đường có biển báo cấm nên có cơ sở khẳng định được rằng bị cáo không hiểu biết về Luật Giao thông đường bộ. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm sử dụng Giấy phép lái xe giả. Như đã nhận định ở trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đồng thời áp dụng mức hình phạt khởi điểm đối với bị cáo trong khung hình phạt là không nặng. Do đó, không chấp nhận ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Tiếp tục duy trì Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn T cho đến khi bị cáo Nguyễn Văn T đi thi hành án phạt tù.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 158/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức")
- Số bản án: 158/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức")
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án xét xử phúc thẩm về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
