|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Thanh Bình
Bà Vũ Thị Kim Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đức T, sinh năm 1992 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Văn T1 và Vũ Thị L; có vợ Đào Thị Thu H; chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại tại địa phương đến nay, có mặt.
Bị hại Nguyễn Trương G (đã chết), người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trương G là: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lương Thị L1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Đào Thị Thu H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Tiến T2; anh Đỗ Văn T3, anh Nguyễn Hữu C (đều vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h ngày 10/12/2023, Vũ Đức T cùng một số người thân trong gia đình sau khi đi tảo mộ, thắp hương tại Nghĩa trang nhân dân thành phố V tại: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố V thì T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS: 17A- 404.74 đi từ đường nội bộ trong Nghĩa trang ra đường T để rẽ trái đi lên cao tốc N - Lào Cai về thành phố Hà Nội. Lúc này, trời đã xẩm tối và đường đã bật đèn cao áp. Khi đến nơi giao nhau với đường T, T bật xi nhan trái rồi đi chậm qua phần đường của chiều đường T theo hướng từ huyện T đi thành phố V qua lối mở dải phân cách cứng ở giữa đường để rẽ trái nhập vào chiều đường T đi nút giao cao tốc K (IC04). Trước khi đến đoạn giao nhau này, phía bên phải đường nội bộ Nghĩa trang có biển báo giao nhau với đường ưu tiên (Biển W.208) nhưng T không chú ý quan sát nên không nhìn thấy biển báo này để chấp hành hiệu lệnh đường bộ. Do chủ quan mật độ phương tiện tham gia giao thông trên đường T không đông nên T không chú ý quan sát các phương tiện di chuyển theo chiều đường từ huyện T về thành phố V để nhường đường bảo đảm an toàn cho các phương tiện trên đường ưu tiên mà vẫn điều khiển xe di chuyển chậm để đi qua chiều đường này.
Khi xe ô tô của T đi cắt ngang hết khoảng 2/3 phần đường của chiều đường từ huyện T đi thành phố V thì T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1- 301.44 do anh Nguyễn Trường G1, sinh năm: 1990, trú tại: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố V (có Giấy phép lái xe hạng A1 số 2601169007377 do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 26/5/2016, có giá trị không thời hạn) đang điều khiển trên chiều đường từ huyện T đi thành phố V cách xe T khoảng 12,2m. Do phát hiện xe của anh G1 đang đi nhanh ở cự ly gần nên T luống cuống tiếp tục điều khiển xe tiến thêm khoảng 01m rồi đạp phanh. Lúc này, anh G1 đang điều khiển xe trên đường T (đường U) thì bị xe của T di chuyển từ đường khu nghĩa trang (đường không ưu tiên) ra, cắt ngang phần đường theo chiều di chuyển của mình nên phản xạ né tránh khiến xe mô tô mất thăng bằng nghiêng trái loạng choạng, phần thân xe mô tô phía trước bên trái va chạm vào khu vực cản trước (ba đờ sốc) bên trái xe ô tô của T. Sau khi xảy ra đâm va, anh G1 đập đầu vào cản trước đầu xe T rồi ngã đập đầu xuống đường, xe mô tô văng khoảng 10m vào đầu dải phân cách hướng về thành phố V thì dừng lại. Khi xảy ra va chạm, do hoảng loạn T nhả chân phanh khiến xe di chuyển thêm khoảng 20cm rồi tiếp tục đạp phanh cài số “P” để dừng. T xuống xe thấy anh G1 nằm ngửa ngay sát cản trước bên trái xe trong tình trạng bất tỉnh chảy nhiều máu vùng đầu. Vùng
gầm xe tiếp giáp cản trước trái xe T có trượt qua và che chắn toàn bộ vùng đầu, trán trước đến sống mũi của anh G1 (đầu anh G1 hướng vào gầm xe, chân duỗi thẳng về hướng vuông góc với chiều đường từ thành phố V đi huyện T, đối xứng với xe T). Do gầm cản trước che chắn 01 phần đầu, trán đến sống mũi G1 nên T lên xe lùi khoảng 10cm để lộ toàn bộ cơ thể G1 ra khỏi gầm xe rồi gọi Cơ quan y tế đưa anh G1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh V. Tuy nhiên do thương nặng anh G1 đã tử vong.
Sau khi nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, lấy lời khai những người liên quan theo quy định. Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định:
- Hiện trường chung: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường T thuộc phường Đ, thành phố V (đường đôi có dải phân cách cứng ở giữa phân chia thành hai chiều đường). Chiều đường xảy ra tai nạn là chiều từ huyện T đi thành phố V, chiều rộng lòng đường là 7,5m, chia làm 2 làn đường bằng vạch kẻ sơn ở giữa. Làn giáp vỉa hè có chiều rộng 3,5m, làn giáp giải phân cách chiều rộng 4m. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn giao cắt với lối vào nghĩa trang thành phố V kích thước 12,8m và độ rộng giữa hai đầu dải phân cách là 11,6m.
- Hiện trường cụ thể: Xác định mép đường bên phải đường T, chiều từ huyện T đi thành phố V làm mép chuẩn, đầu dải phân cách cứng chiều đi huyện T làm mốc chuẩn. Mô tả các dấu vết cụ thể sau:
- + Trên mặt đường nhựa phát hiện đám cà xát mặt đường có chiều hướng dọc theo chiều đi thành phố V có kích thước (15,9x0,25x0,01)m, ký hiệu (1). Đầu vết (1) cách mép chuẩn 5,6m, cách điểm mốc 2,6m và cách tâm trụ trước bên trái xe ô tô (4) 5,1m. Cuối vết cà (1) nằm trên gờ của dải phân cách hướng về thành phố V kích thước (0,3x0,15)m, sâu 0,01m.
- + Phát hiện trên mặt đường nhựa 01 chiếc mũ bảo hiểm nửa đầu ký hiệu (2) bị vỡ le và vành mũ nửa bên trái. Mũ (2) cách nép chuẩn 6,75m và cách trục trước bên trái xe (4) 1,2m.
- + Phát hiện trên mặt đường dấu chất dịch màu nâu đỏ kích thước (1,8x1,8)m ký hiệu (3), cách mép đường chuẩn 7,0m, cách trục trước bên trái xe (4) 0,7m.
- + Trên mặt đường phát hiện xe ô tô BKS: 17A- 404.74, đầu xe hướng vào lối mở giữa hai đầu dải phân cách, đuôi xe hướng vào cổng nghĩa trang thành phố V ký hiệu (4). T trục trước bên trái xe cách mép chuẩn 5,85m, tâm trục sau bên trái xe cách mép chuẩn 3,45m.
- + Trên mặt đường nhựa phát hiện đám mảnh vỡ nhựa kích thước (1,8x1,5)m nằm tập trung cuối đám vết cà (1) ký hiệu (5). Cạnh đám mảnh vỡ phát hiện 01 chiếc dép bên trái dạng dép tổ ong màu xám.
- + Trên mặt đường phát hiện 01 xe mô tô BKS: 88B1 – 301.44, đầu xe hướng đi huyện T, đuôi xe hướng đi thành phố V, xe bị đổ nghiêng bên phải ký hiệu (6). T trục sau cách mép chuẩn 6,8m, tâm trục trước cách mép chuẩn 6,7m và cách tâm (3) 6,45m.
Tại hiện trường thu giữ chất dịch màu nâu đỏ tại vị trí (3) trong sơ đồ, niêm phong ký hiệu A4.
Khám nghiệm phương tiện xác định:
- Xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu trắng, BKS: 17A-404.74: Tại sườn trái phía trước bên dưới đèn pha trái có đám móp méo kim loại bong tróc sơn kích thước (45x15)cm, làm một phần kim loại bị đẩy ép theo chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, ép sát vào phần nhựa chắn bùn trước của bánh bên trái; Điểm cao nhất cách mặt đất 71cm, thấp nhất cách mặt đất 60cm. Phía trước dấu vết mô tả ở trên, phần sườn trái ba đờ sốc trước có vết móp méo bong tróc sơn có kích thước (35x35)cm, có chiều hướng từ trái sang phải, tâm điểm vết có bám dính một số sợi lông, tóc; Vị trí bám dính lông tóc cách mặt đất 45cm và cách trục trước bên trái 50cm. Phần Ba đờ sốc trước phía bên trái có nhiều dấu vết dịch nâu đỏ lấm chấm bám trên bề mặt ngoài kích thước (65x42)cm. Phía trên lưới tản nhiệt góc trái phía trước có vết móp kim loại bong tróc sơn kích thước (3x2)cm, có chiều hướng từ trái sang phải, từ trước về sau; Điểm đầu cách mặt đất 65cm, cách lô gô trước 42cm. Phần nhựa bao bọc lưới tản nhiệt bị gãy vỡ, đứt dời dài 50cm. Lưới tản nhiệt phía trước ô tô bị gãy rời. Phần Ba đờ sốc phía dưới và bên trái lưới tản nhiệt có đám vết rách nhựa bong tróc sơn trên diện (90x35)cm, có chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên. Đầu vết cách trục trước bên trái 58cm, cách mặt đất 26cm, cuối vết cách mặt đất 20cm. Phía dưới tản trước bên trái có đám trượt xước bong tróc sơn kích thước (30x7)cm không rõ chiều hướng; điểm cao nhất cách mặt đất 23,5cm, thấp nhất cách mặt đất 18cm; T vết cách tâm lô gô 40cm; bám dính chất dịch màu nâu đỏ kích thước (15x15)cm. Hệ thống điều khiển, hãm, đèn, còi, gạt nước hoạt động bình thường. Phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Thu giữ: Chất dịch màu nâu đỏ bám dính trước đầu xe niêm phong ký hiệu A1; Mẫu vi vết tại vỏ bọc vô lăng niêm phong ký hiệu A2; Mẫu lông tóc bên sườn trái Ba đờ sốc xe niêm phong ký hiệu A5.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1- 301.44: Chiều dài thực tế 193cm, chiều rộng tay lái 55cm, chiều cao đầu tay nắm bên phải 88cm, chiều cao đầu tay nắm bên trái 98cm.
- + Ốp kính đèn pha phía trước bị vỡ thủng kích thước (13x15)cm; Ốp nhựa phía trên cụm đèn pha bị bung bật, dập vỡ và có dấu vết trượt bên ngoài không rõ chiều hướng kích thước (25x8)cm. Gương chiếu hậu bên trái bị dồn đẩy chiều hướng từ trái qua phải, phần chân ốc kim loại chân gương và phần ốp nhựa chân gương bám dính tạp chất màu trắng kích thước (8x5)cm, cách mặt đất 103cm. Tay nắm bên trái bị dồn đẩy từ trước về sau, bung bật nút điều khiển bên trái; Phần bọc cao su bên ngoài phía trước tay nắm bị xước rách cao su hướng từ trước về sau kích thước (8x4)cm. Đầu nắm tay lái bên phải có vết xước kim loại (3x2)cm.
- + Ốp mặt nạ phía trước đầu xe bị bung rời khỏi thân xe. Bên trong phần ốc hãm bằng kim loại và vỏ ắc quy có dấu vết trượt xước bám dính xi măng kích thước (12x3)cm. Cánh yếm bên phải vị trí phía dưới tương ứng với đèn xi nhan bên phải có vết trượt xước dập vỡ nhựa (8x2)cm. Sườn xe bên phải vị trí dưới bàn để chân bên phải người lái có dấu vết mài mòn nhựa kích thước (25x3)cm. Ốp bên ngoài ống xả có dấu vết mài mòn nhựa (20x4)cm. Mặt ngoài bên phải tay dắt bằng kim loại phía sau yên xe có vết mài mòn kích thước (4x2)cm.
Kiểm tra khu vực chân chống và bề mặt bụng xe phát hiện: Tại vị trí mặt ngoài khung kim loại gắn cố định vào cạnh trái của chân chống giữa hình chữ V (khung kim loại này dùng để tạo điểm tì cho người lái đạp sử dụng chân chống giữa khi dừng xe) có đám vết cà xước mòn kim loại kích thước trên diện (0,7x1,5)cm. Tại mặt ngoài đầu thanh kim loại này có vết móp méo cà xước kim loại. Tại mặt ngoài thanh kim loại giảm chấn gắn cố định hai đầu tạo vuông góc giữa thân chân chống và bề mặt tiếp xúc mặt đất của chân chống phụ bên trái có đám vết cà xước mài mòn kim loại không rõ chiều hướng kích thước (5x0,8)cm.
Khám nghiệm tử thi xác định:
- Khám ngoài: Là nam giới, chiều dài 1,70m, thể tạng trung bình. Tóc đen cắt ngắn dính máu. Quầng mắt hai bên bầm tím, hai mắt khép, hai nhãn cầu không dập vỡ, kết giác mạc hai bên xung huyết nhẹ, hai lỗ tai, hai lỗ mũi có dịch máu. Miệng khép hai cung răng xương hàm không dập gãy. Khoang miệng có dịch máu, vùng đỉnh chẩm lệch trái có khối sưng nề bầm tím đường kính 12cm. Mặt trước trán lệch trái có vết thương đã khâu nằm ngang dài 6,5cm. Gò má trái bầm tím, bẹp lún, gãy xương gò má trái nhiều mảnh, ấn lạo xạo, xây xát da 1/3 dưới mặt ngoài cẳng tay phải nằm dọc trên diện (10x15)cm, xây xát da gối phải đường kính 02cm, xây xát da góc mu ngón 1 bàn chân phải kích thước (1x1,2)cm, xây xát da nằm chéo 1/3 giữa mặt trong cẳng chân trái kích thước (1,5x1)cm.
- Khám trong (mổ tử thi): Tiến hành mở da cơ theo hướng vết thương vùng trán trái thấy tổ chức cân cơ dưới da bầm dập, tụ máu. Xương hộp sọ vùng trán đỉnh trái vỡ lún sập 01cm vào xương ổ trần hốc mắt trái, diện vỡ (6x6,5)cm. Máu
từ trong hộp sọ vẫn chảy rỉ ra ngoài qua đường vỡ lún xương này. Quá trình khám nghiệm thu giữ mẫu máu của tử thi Nguyễn Trường G1 để giám định ký hiệu M1.
Tại hiện trường xảy ra sự việc, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 chiếc dép, 01 chiếc mũ bảo hiểm, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode màu đỏ, BKS: 88B1- 301.44 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS: 17A- 404.74; cùng một số giấy tờ sau: 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Đức T số [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 29/10/2019 (giấy phép lái xe có giá trị hết ngày 29/10/2029; 01 Giấy biên nhận thế chấp bản gốc Đăng ký xe của Ngân hàng TMCP T5, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm và 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô nhãn hiệu Mazda3, BKS: 17A-404.74.
Ngày 10/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 734/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định nguyên nhân chết của anh Nguyễn Trường G1. Tại bản kết luận giám định số: 135/KLGĐTT – PYVP ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Trường G1: Chấn thương sọ não nặng.
Cùng ngày 10/12/2023, Cơ quan CSĐT - Công an T ra Quyết định trưng cầu giám định số 738/QĐ-ĐCSHS và 739/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định nồng độ cồn và chất ma túy trong mẫu máu thu từ tử thi của anh Nguyễn Trường G1. Tại bản kết luận giám định số: 3354/KLGĐ-KTHS ngày 15/12/2023 và 3392A/KLGĐ-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V đối với anh Nguyễn Trường G1 xác định: Không tìm thấy nồng độ cồn (Ethanol); Không phát hiện thành phần chất ma túy (M, H1, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2C – B và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu là mẫu máu của tử thi Nguyễn Trường G1.
Khoảng 18 giờ 41 phút cùng ngày 10/12/2023, Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Vũ Đức T tại hiện trường xảy ra tai nạn. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Vũ Đức T là 0,00ml/1 lít khí thở. Ngày 11/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 737/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu từ Vũ Đức T. Tại bản Kết luận giám định số: 3390/KLGĐ-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Không phát hiện thành phần chất ma túy (M, H1, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2C – B và TFMPP) trong mẫu nước tiểu thu từ Vũ Đức T.
Cùng ngày 11/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 735/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu V giám định các mẫu A1, A2, A4, A5 có AND của người không? Nếu có thì xác định mẫu A1, A4, A5 có trùng khớp với AND trên mẫu M2 không? Xác định mẫu A2 có trùng khớp với ADN trên mẫu M1 không? Tại bản Kết luận giám định số HT765.23/PY-XNSH ngày 20/12/2023 của V kết luận: 1. Dấu vết trên vỏ bọc vô lăng xe ô tô mang
BKS: 17A – 404.74 (ký hiệu A2) gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễn sắc thể thường với nồng độ rất thấp, không đủ điều kiện so sánh. 2. Dấu vết trên tăm bông thu chất dịch màu nâu đỏ bám dính tại ba đờ sốc xe ô tô mang BKS: 17A – 404.74 (ký hiệu A1), tại mặt đường của hiện trường (ký hiệu A4); mẫu lông tóc trên sườn trái ba đờ sốc ô tô màu trắng mang BKS: 17A – 404.74 (ký hiệu A5) gửi giám định có sinh phẩm của người; có AND nhiễm sắc thể thường trùng khớp với AND nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Nguyễn Trường G1 (ký hiệu M2).
Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định số 481/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử: Mô tả chi tiết diễn biến trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giữa các phương tiện và đặc điểm nhận dạng con người được ghi nhận trong Video trước thời điểm va chạm xe mô tô có bị đổ hoặc va chạm với phương tiện nào khác không? Chụp ảnh và in sao diễn biến nội dung vụ việc ra đĩa DVD đối với 01 chiếc USB lưu trữ hình ảnh vụ tai nạn giao thông ký hiệu A1. Tại bản Kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 04 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Sao chụp được 06 ảnh và sao lưu được tệp Video theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 bản ảnh giám định như sau: Ảnh 1,2 xuất hiện một xe ô tô sơn sáng màu (xe A) đi từ đường nhỏ ra đường lớn; Ảnh 3,4 xuất hiện một xe hai bánh đi trên đường lớn, hướng từ phải sang trái (xe B) đi tới gần xe A đang đi qua đường; khi xe B đi gần đến xe A, quan sát thấy xe B đổ nghiêng về phía bên trái theo chiều di chuyển; Ảnh 5,6 xe B trượt trên đường qua phía trước đầu xe A, giống như va chạm với phần đầu xe A, sau đó va chạm với dải phân cách cứng giữa đường rồi dừng lại. Xe A dừng lại trên đường.
Ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã tiến hành thực nghiệm điều tra tại hiện trường xảy ra vụ việc. Diễn biến: Xe ô tô BKS: 17A- 404.74 (ký hiệu A), xe mô tô BKS: 88B1- 301.44 (ký hiệu B). Xe A di chuyển với tốc độ khoảng dưới 10km/h từ đường N thành phố V ra đường T, khi đến vị trí A1, do chủ quan nhận định không có phương tiện đi lại nên T quan sát nhanh không phát hiện ra xe B và tiếp tục điều khiển xe A đi lấn vào lòng đường T chiều đường từ huyện T đi thành phố V đến vị trí A2. Lúc này, T phát hiện xe B đang di chuyển theo chiều đường từ huyện T đi thành phố V. Trục trước bên trái xe ô tô tại vị trí A2 cách A1 là 7,3m và cách xe mô tô tại vị trí B1 là 12,2m, cách đầu dải phân cách cứng là 2,2m. Tại vị trí này do phát hiện xe B ở cự ly gần nên không xử lý kịp. Xe A di chuyển thêm 1,5m đến vị trí A3 thì xảy ra va chạm với xe B (xe B đâm vào đầu bên trái của xe A). Tại hiện trường có vết cà xước cách xe T về bên trái 5,1m là do cạnh bên trái chân chống chính của xe B gây nên trước thời điểm xảy ra tai nạn. Sau khi va chạm, xe B tiếp tục trượt văng vào đầu dải phân cách và
là cuối vết cà. T nhả chân phanh để xe A đi tiếp đến vị trí A4 cách A3 0,2m xuống xe phát hiện đầu xe ô tô dưới gầm bên trái có một nam giới nằm trên mặt đường, phần đầu của nam giới này nằm dưới gầm xe. Sau đó T lên xe lùi lại để đưa nam giới đi cấp cứu. Phù hợp với diễn biến của vụ việc qua khám nghiệm hiện trường và kết luận giám định kỹ thuật số điện tử.
Ngày 24/07/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra các Yêu cầu định giá tài sản số 2954 và 2955/YC-ĐTTH, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V định giá đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode màu đỏ, BKS: 88B1-301.44 và xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS: 17A- 404.74. Tại Kết luận định giá tài sản số 85 và 86/KL- HĐĐG ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố V kết luận: Thiệt hại về tài sản của 01 xe mô tô BKS: 88B1-301.44 là 2.132.000đ (Hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn đồng chẵn) và thiệt hại về tài sản của 01 xe xe ô tô BKS: 17A- 404.74 là 4.701.000₫ (Bốn triệu bảy trăm linh một nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã làm rõ những nội dung sau:
Anh Nguyễn Trường G1 có vi phạm khi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1- 301.44 không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ theo quy định tại khu vực đường bộ giao nhau cùng mức, khu đông dân cư, gây tai nạn đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008; khoản 3, 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ G2 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, anh G1 đã tử vong nên không xem xét xử lý.
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, BKS: 17A- 404.74 là tài sản hợp pháp của T và chị Đào Thị Thu H, sinh năm: 1992, trú tại: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vợ của T). Ngày 30/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H 01 xe ô tô và 01 Giấy biên nhận thế chấp Giấy đăng ký xe ô tô bản gốc của Ngân hàng TMCP T5, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm và 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô nhãn hiệu Mazda3, BKS: 17A-404.74. Chị H đã nhận lại tài sản và tự nguyện khắc phục sửa chữa xe, không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1- 301.44 ban đầu do anh Lưu Quang T4, sinh năm: 1993, trú tại phường K, thành phố V mua và đăng ký lần đầu vào đầu năm 2020. Đến cuối năm 2020, anh T4 bán lại cho anh Trần Quang K, sinh năm 1983, trú tại phường T, thành phố V (là chủ cửa hàng kinh doanh mua bán xe máy tại số nhà E, đường H, phường T, thành phố V). Đến ngày 16/4/2022, chị Lương Thị L1, sinh năm 1984, trú tại: Thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến cửa hàng của anh K mua chiếc xe làm phương tiện đi lại. Ngày 10/12/2023, anh Nguyễn Trường G1 mượn chị L1 chiếc xe trên để về nhà thì xảy ra tai nạn. Anh G1 có đủ điều kiện tham gia giao thông theo quy định nên chị L1
đồng ý cho anh G1 mượn xe máy tham gia giao thông, sau đó gây tai nạn tử vong. Cơ quan điều tra xác định chị L1 không có lỗi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông nên không đề cập xử lý. Ngày 27/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lương Thị L1 chiếc xe trên cùng 01 Giấy mua bán xe. Chị L1 đã nhận lại tài sản và tự nguyện sửa chữa chiếc xe, không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Vũ Đức T được cơ quan có thẩm quyền cấp theo đúng quy định pháp luật.
Về bồi thường dân sự:
Ngày 09/01/2024, Vũ Đức T đã trực tiếp thăm hỏi động viên, hỗ trợ và bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Trường G1 số tiền 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng). Ông Nguyễn Văn X được gia đình bị hại ủy quyền đã nhận đủ số tiền trên và không yêu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.
Trong giai đoạn điều tra, Vũ Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 153/CT- VKSTPVY ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định truy tố Vũ Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) (BLHS).
Bị cáo T thành khẩn khai nhận, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận tội và xin chịu trách nhiệm hình sự. Người đại diện của gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn X trình bày gia đình ông đã nhận được tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo T nên không còn yêu cầu gì, ngoài ra ông đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đào Thị Thu H trình bày đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Chị Lương Thị L1 có đơn xin vắng mặt, lời khai và nội đơn trình bày được công bố thể hiện chị đã nhận được tài sản và không còn yêu cầu gì trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan điểm, nội dung thể hiện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Đức T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của BLHS xử phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án
treo; đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 260 BLHS phạt bổ sung bị cáo với hình thức: Cấm hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn từ 01 năm đến 02 năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật; về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại Vũ Đức T 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 29/10/2019.
Bị cáo không có tranh luận gì. Đại diện gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đào Thị Thu H đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng khoan hồng của pháp luật với mức phạt nhẹ nhất để bị cáo được tiếp tục lao động, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho gia đình xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của người đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đơn dân sự cũng như những người đại diện hợp pháp của họ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hồ sơ đã có đủ tài liệu, lời khai của họ về những nội dung liên quan đến vụ án, trong đó vấn đề bồi thường dân sự đã được giải quyết xong, không còn ai có yêu cầu gì. Do vậy, Tòa án có đủ căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định của pháp luật.
[3] Về hành vi phạm tội trong vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết luận định giá thiệt hại về tài sản cùng các vật chứng và tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 10/12/2023, Vũ Đức T là người có giấy phép lái xe ô tô theo quy định đã điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda3, BKS 17A- 404.74 đi từ đường nội bộ nghĩa trang thành phố V ra đoạn đường giao với đường T thuộc tổ dân phố T, phường Đ, thành phố V để đi qua lối mở dải phân cách cứng giữa đường, chuyển hướng
sang trái nhập vào chiều đường T đi Cao tốc N - Lào Cai do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không nhường đường theo quy định khi đến nơi giao nhau nên đã đâm vào xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1- 301.44 đi trên đường T từ huyện T đi về thành phố V đến lối mở giao nhau với đường N thành phố V. Hậu quả khiến anh Nguyễn Trường G1 tử vong.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Trường G1 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ theo quy định gây tai nạn đã vi phạm khoản 3, 5 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G2 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên anh G1 đã tử vong nên không đặt ra xem xét trách nhiệm.
Đối với hành vi của Vũ Đức T điều khiển xe ô tô không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ khi đi từ đường không ưu tiên sang đường ưu tiên, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không nhường đường theo quy định tại khu vực giao nhau giữa đường không ưu tiên với đường ưu tiên, phía trước đoạn giao nhau có biển báo W.208 (biển cảnh báo nguy hiểm, báo hiệu giao nhau với đường ưu tiên), khu đông dân cư, làm anh Nguyễn Trường G1 tử vong đã vi phạm khoản 5 Điều 4; khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 10; khoản 1 Điều 11; khoản 1 Điều 12; khoản 1, khoản 2 Điều 15; khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2019 và khoản 3, 5 Điều 5 thông tư 31 ngày 29/08/2019 của Bộ G2.
Nội dung các quy định đã nêu:
Khoản 5 điều 4 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“5. Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác...người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Khoản 23, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Các hành vi bị nghiêm cấm:
“23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Quy tắc chung:
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”
Khoản 1, điểm b khoản 4 Điều 10 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Hệ thống báo hiệu đường bộ:
“1. Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, rào chắn.
4. Biển báo hiệu đường bộ gồm năm nhóm, quy định như sau:
b) Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra;.."
Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Chấp hành báo hiệu đường bộ:
“1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.”
Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Tốc độ xe:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình”.
Khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Tốc độ xe:
“1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”
Khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:
3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.”
Khoản 3, khoản 5 Điều 5 Thông tư 31 của Bộ G2 quy định: “Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
...
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức ......;
5. Qua khu vực đông dân cư...”
Hành vi nêu trên của Vũ Đức T gây nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS. Nội dung quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a. Làm chết người; ...”
Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đối với Vũ Đức T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính chất tội phạm: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, cũng như chưa từng bị xử lý trách nhiệm do vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình và tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả gây ra nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo được đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy rằng hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cũng có một phần lỗi của người bị hại. Tuy thiệt hại về người là không thể khắc phục được nhưng bị cáo đã tích cực bồi thường các tổn thất cho gia đình nạn nhân. Bằng sự ăn năn hối lỗi của mình bị cáo đã được đại diện gia đình bị hại cảm thông và xin giảm nhẹ hình phạt. Thấy rằng: Bị cáo tuổi đời còn
trẻ với nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có thể áp dụng phạt tù cho hưởng án treo vẫn đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.
[6] Về phạt bổ sung: Bị cáo T được đào tạo lái xe cơ bản nhưng khi tham gia giao thông còn thể hiện sự cẩu thả, chủ quan không tôn trọng quy định của Luật giao thông đường bộ. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đề nghị cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn một năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ cần chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và những vấn đề khác:
Đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda3, BKS 17A- 404.74 chủ sở hữu hợp pháp là chị Đào Thị Thu H đã được nhận lại xe và không yêu cầu gì bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, BKS: 88B1-301.44, chủ sở hữu hợp pháp là chị Lương Thị L1 đã được nhận lại xe và không yêu cầu gì bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] cấp ngày 29/10/2019, có hiệu lực đến ngày 29/10/2029 là giấy tờ hợp pháp của Vũ Đức T, cơ quan điều tra đã trả lại cho T nên Hội đồng không xem xét.
Vấn đề bồi thường dân sự, do các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong và đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Vũ Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Vũ Đức T 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Vũ Đức T cho giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án
có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Căn cứ Điều 41, khoản 5 Điều 260 BLHS: Cấm Vũ Đức T hành nghề lái xe ô tô, thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Vũ Đức T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện gia đình Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án, thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Việt Quang |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
